Chủ Nhật, ngày 20/08/2017 21:07 PM (GMT+7)
Chủ Nhật, ngày 06/10/2013 16:26 PM (GMT+7)

Bóng tối trên mỏ vàng

Đối với nhiều người, chiếc nhẫn cưới bằng vàng biểu tượng cho tình yêu có thể là vô giá nhưng trong thực tế vàng lại hoàn toàn có giá - và là giá đắt. Việc khai thác vàng khiến trái đất và cư dân của nó trả giá nhiều hơn giá trị thực của thứ kim loại này.

   
Hoạt động khai thác vàng là một ngành công nghiệp của sự hủy hoại: tàn phá môi trường, tiêu tốn nguồn lực của xã hội trong khi mang lại rất ít lợi ích cho cộng đồng.
 bong toi tren mo vang hinh anh 1
Trẻ em châu Phi phải đi đào vàng

Phá núi giết sông

Theo tính toán trong báo cáo của Ủy ban chống đói nghèo Oxfam America và tổ chức bảo vệ môi trường Earthworks, với cách khai thác mỏ hiện nay, để có 1 ounce (28,35g) vàng thành phẩm, các thợ mỏ đào lên mặt đất 79 tấn đất đá. Tại một số mỏ vàng lớn, mỗi ngày các thợ mỏ đào tới 500.000 tấn đất đá, xếp thành đống còn to hơn cả đại kim tự tháp ở Ai Cập.

Công việc đầu tiên của các nhà khai khoáng là xác định vị trí một mỏ quặng ngầm dưới lòng đất và mang nó lên trên mặt đất. Các công ty khai khoáng ngày càng ưa chuộng cách khai thác mỏ theo kiểu “đào hố”, tức dùng máy móc hoặc chất nổ để bỏ đi các lớp đất đá bên trên lớp quặng, thay vì làm theo cách truyền thống là “đào hầm”.

Một mỏ vàng khai thác theo cách này sẽ tiết kiệm cho nhà khai thác nhiều hơn so với cách đào hầm, nhưng thải ra đất đá nhiều hơn cách truyền thống từ 8-10 lần, chưa kể nó sẽ để lại những chiếc hố khổng lồ. Hố lớn nhất do hoạt động khai khoáng để lại hiện nay là hố ở mỏ Bingham Canyon, bang Utah (Mỹ), có chiều rộng 4km và chiều sâu 1,5km. Ở Mỹ, hiện 97% các mỏ kim loại đang được khai thác theo kiểu “đào hố”, trong khi tỷ lệ này trên thế giới là 2/3 và đang tăng nhanh.

Lượng phế thải sản sinh ra để có một đơn vị kim loại tùy thuộc vào từng loại kim loại khác nhau, nhưng vàng là thứ kim loại có phế thải khi khai thác lớn nhất do độ quý hiếm của nó (hàm lượng quặng vàng thường thấp hơn nhiều so với các quặng kim loại khác). Chẳng hạn, bình quân các mỏ đồng được khai thác tại Mỹ trong thế kỷ 20 có trữ lượng 2,5% (100kg quặng thu được 2,5kg đồng), trong khi trữ lượng vàng là 0,00001%, tức mỗi 100kg quặng vàng người ta chỉ thu được 0,01g vàng. Hằng năm, ngành khai khoáng Mỹ thải ra lượng phế thải rắn tương đương 9 lần khối lượng rác thải của tất cả các thành phố và thị trấn Mỹ cộng lại.

Nhưng sức tàn phá của ngành khai thác vàng không chỉ nằm ở số lượng phế thải, mà quan trọng hơn là tính độc hại của nó. Một khi các quặng được mang lên mặt đất, nó sẽ được xử lý để tách khoáng, trong trường hợp này là vàng, và đây là công đoạn gây nguy hại cho môi trường nhiều nhất. Tại Mỹ, nơi các công ty buộc phải báo cáo về phế thải độc hại, ngành khai thác kim loại sản sinh 1.300 tấn phế thải độc hại mỗi năm, tương đương 46% lượng phế thải độc hại của tất cả các ngành công nghiệp cộng lại.

Hiện nay có 3 phương pháp chính để tách vàng ra khỏi quặng, gồm phương pháp xi-a-nua, phương pháp amangam và phương pháp Cupen. Cả 3 phương pháp này đều thải ra những hóa chất vô cùng độc hại như xi-a-nua, thủy ngân và chì. Tuy nhiên, các mỏ vàng hiện nay đa số dùng phương pháp xi-a-nua để tách vàng. Ước tính để làm ra một chiếc nhẫn vàng bình thường, người ta phải thải ra 18 tấn phế thải. Xi-a-nua ở dạng muối (NaCN, KCN...) và ở dạng a-xít (như HCN) đều rất độc. Nhiễm độc xi-a-nua thuộc dạng nhiễm độc thần kinh. Nhiễm độc nhẹ sẽ bị nhức mắt, đau họng, ớn lạnh. Nhiễm độc nặng sẽ trụy tim mạch và tử vong.

Những công ty khai khoáng lớn thường chứa phế thải từ việc tách vàng trong các đập phế thải (tương tự đập bùn đỏ ở Hungary). Dù những công ty này luôn cho rằng các đập của họ an toàn, nhưng phúc trình của Oxfam cho biết trong vòng 25 năm (tính đến 2005), việc vỡ đập phế thải chiếm tới 3/4 tất cả các tai nạn nghiêm trọng của ngành khai khoáng. Chẳng hạn, năm 1995, đập phế thải của mỏ vàng Omai ở Guyana do Công ty Cambior của Canada khai thác đã bị vỡ, làm tràn khoảng 3 tỷ lít bùn chứa xi-a-nua vào dòng sông Omai, một nhánh của con sông Essequibo lớn nhất nước.

Tổng thống Guyana phải tuyên bố tất cả 51km sông tính từ nơi vỡ đập đến Đại Tây Dương (nơi ở của 23.000 người) là vùng thảm họa môi trường. Nồng độ xi-a-nua trong sông Omai lúc đó đo được là 28 phần triệu, cao hơn mức gây chết người theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ 140 lần. Nhưng điều nghiêm trọng hơn là nhiều công ty khai khoáng thậm chí không xây đập chứa phế thải mà thải trực tiếp ra sông để tiết kiệm chi phí. Dù việc này bị cấm ở hầu hết các quốc gia, chỉ có 3 công ty khai khoáng chính thức cam kết không xả phế thải quặng ra sông, gồm Falconbridge, Western Mining Corporation và BHP Billiton.
 bong toi tren mo vang hinh anh 2
Lợi ích từ hoạt động khai thác vàng mang lại ít hơn những thiệt hại nó gây ra cho địa phương

Di chứng ngàn năm

Vàng và các loại kim loại có giá trị khác thường được tìm thấy dưới dạng đá quặng có lưu huỳnh. Quá trình tách vàng cũng tách cả lưu huỳnh ra khỏi đá quặng. Khi lưu huỳnh tiếp xúc với oxy và nước, nó sẽ tạo thành a-xít sun-fua-ric, một thành phần của mưa a-xít, nhưng có độ đậm đặc hơn mưa a-xít từ 20 - 300 lần. Khi loại a-xít này ngấm vào các loại đá, nó giải phóng nhiều loại kim loại có trong đá như a-xen, cát-mi, thủy ngân. Những kim loại này không nguy hiểm khi nằm trong đá, nhưng khi được giải phóng sẽ trở thành những chất độc chết người.

Cuối cùng, a-xít sun-fua-ric sẽ ngấm xuống các mạch nước ngầm, chảy ra sông suối, nơi nó sẽ giải phóng nhiều kim loại hơn từ các loại đá ở đó. Khi xuôi dòng, loại a-xít này và các kim loại chết người có thể giết sạch tất cả dạng sống dưới nước ở trong vòng vài ký lô mét và hủy hoại môi trường khó tính toán được. Quá trình này được gọi là sự rò rỉ a-xít mỏ (AMD), là một dạng ô nhiễm nguồn nước phổ biến nhất của hoạt động khai khoáng. Tác động của AMD có thể kéo dài hàng ngàn năm, ví dụ như những ô nhiễm AMD ở huyện Rio Tinto tại Tây Ban Nha hiện nay là di chứng từ hoạt động khai khoáng của thời La Mã cổ đại.

Vàng và máu thợ đào

Dù hủy hoại môi trường và tiêu thụ đến 10% nguồn năng lượng trên thế giới, ngành khai thác vàng chỉ cung cấp được việc làm cho 0,09% lao động toàn cầu. Không chỉ vậy, hoạt động khai thác vàng bị phê phán là nơi tình trạng vi phạm nhân quyền diễn ra phổ biến và hầu như không giúp ích gì cho các cộng đồng địa phương, khiến nổ ra xung đột giữa nhân công, dân địa phương và lực lượng an ninh mỏ. Máu đã đổ.

Ngày 9-10-2003, mặt phía nam của mỏ vàng Grasberg ở Tây Papua, Indonesia bị sập cướp đi sinh mạng của 8 nhân công và làm bị thương 5 người khác. Điều tra của chính quyền phát hiện những bằng chứng cho thấy vài ngày trước khi xảy ra vụ sập, nhà khai thác đã thu được dữ liệu địa chấn dự báo sẽ có thể gây sập mỏ trong thời gian ngắn và đã chuyển hết máy móc ra khỏi những khu vực trong diện nguy hiểm, nhưng không hề chuyển hay cảnh báo cho nhân công. Tai nạn năm đó không phải là tai nạn chết người đầu tiên ở mỏ Grasberg, mỏ “đào hố” lớn nhất trên thế giới. Năm 2000, một vụ lở đất đã khiến 4 người khác bị chết.

Năm 1983, giám đốc an toàn của một công ty khai thác mỏ tại Nam Phi từng nói với tờ Economist rằng: “Sản xuất quan trọng hơn an toàn”. Câu nói này phản ánh đúng tinh thần của những kẻ khai thác vàng từ trước đến nay trong lịch sử nhân loại. Đầu thế kỷ 16, vua Tây Ban Nha Ferdinand từng ra lệnh cho đoàn quân khai phá “thế giới mới” của ông như sau: “Hãy lấy vàng. Một cách nhân đạo nếu có thể. Nhưng bằng mọi giá, phải lấy vàng!”.

Công nhân khai thác mỏ là một trong những nghề nguy hiểm nhất thế giới. Đá rơi, hầm sập, hỏa hoạn, khí độc, kiệt sức... cướp đi sinh mạng hơn 15.000 thợ mỏ mỗi năm. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), dù chỉ tuyển dụng chưa tới 1% lao động thế giới, ngành khai thác vàng lại chiếm tới 5% trường hợp tử vong khi lao động trên toàn cầu. Nhưng đây chỉ là những con số được báo cáo chính thức, trong khi con số thực tế được tin cao hơn gấp nhiều lần.

Đe dọa cộng đồng

Khi một hoạt động khai thác mỏ lớn bắt đầu, khu vực xung quanh mỏ thường chứng kiến một sự gia tăng mạnh mẽ các hoạt động kinh tế: nhà cửa được xây thêm cho các thợ mỏ, các doanh nghiệp nhỏ ra đời để phục vụ công ty mỏ và thợ mỏ. Những hoạt động đó thường được cho sẽ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của địa phương.

Nhưng thực tế không phải vậy. Các hoạt động đó chỉ gói gọn trong “thị trấn mỏ”, và người dân hầu như chẳng được hưởng lợi gì. Ngay cả trong ngắn hạn, nền kinh tế mỏ cũng có xu hướng tạo ra những thâm hụt xã hội lớn. Sự tổn hại bắt đầu từ việc dân địa phương bị buộc phải di dời ra khỏi đất đai truyền thống của họ. Tại những nước đang phát triển, người dân hầu như ít có quyền pháp lý trên mảnh đất họ đang sống, dù họ đã ở trên cùng một mảnh đất trong hàng thế hệ.

Vì vậy, khi có hoạt động khai thác mỏ, họ chỉ đơn giản là “bị đuổi”, mà không được báo trước, không được đền bù thỏa đáng hay được cấp cho diện tích đất đai khác tương đương. Ví dụ, một điều tra năm 2001 của Ủy ban Nhân quyền Indonesia cho biết ở mỏ vàng PT Kelian (do Rio Tinto khai thác), từ năm 1989-1992, quân đội và lực lượng an ninh mỏ đã đốt nhiều làng mạc xung quanh khu mỏ, buộc hơn 440 gia đình phải di dời với đền bù rất thấp.

Từ năm 1990-1998, hoạt động khai thác mỏ ở huyện Tarkwa (Ghana) đã di dời hơn 30.000 người. Những người bị di dời không chỉ mất đất đai, nhà cửa mà còn mất cả kế sinh nhai. Dù ngành kinh tế mỏ thường hứa hẹn mang lại việc làm cho dân địa phương, nhưng thực tế nó không (hoặc rất ít) mang lại việc làm cho những người mất đất, mất nhà. Nếu có, thì đó là những công việc “khổ sai”, đối tượng của vi phạm nhân quyền. Đối với các mỏ lớn, đa số các công ty đưa nhân công có sẵn của họ sang hơn là tuyển lao động địa phương, vì họ cần lao động có tay nghề. Ví dụ, ở mỏ Panguna trên đảo Bougainville, Papua New Guinea, công ty khai thác mang 10.000 nhân công của họ từ nước ngoài vào trong vòng 4 năm, trong khi dân số trên đảo chỉ 80.000 người.

Việc dân địa phương bị tước mất môi trường sống kết hợp với sự tràn ngập người nhập cư thường dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội như rượu chè, hút chích, mại dâm, giết người và bạo động. Một điều tra gần đây của Ngân hàng Thế giới ở mỏ vàng Yanacocha (Peru) cho thấy “người dân bi quan về tương lai, có xu hướng bạo loạn và mất dần các đức tính tốt”. Thậm chí, ở Bougainville, thợ mỏ ngập tràn làm gia tăng tội phạm, dẫn tới bạo động và cuối cùng làm nổ ra nội chiến. Các mỏ vàng còn được biết đến là những “ổ” lây truyền các bệnh xã hội, trong đó có AIDS.

Máu đổ theo giá vàng

Khi giá vàng leo thang nhanh từ năm 2009 đến nay, xung đột giữa dân địa phương và công ty khai thác mỏ cũng gia tăng. Nhiều xung đột chết người giữa lực lượng an ninh mỏ và dân địa phương đã diễn ra tại một số mỏ vàng lớn trên thế giới.

Mỏ vàng Bắc Mara của Barrick Gold Corp. gần biên giới Tanzania với Kenya là nơi gần 1 nửa dân cư sống dưới 33 cent/ngày. Khi giá vàng lên, ngày càng nhiều cư dân đang bị cướp đất và kế sinh nhai muốn “liều” xâm nhập vào khu mỏ (trước đây là đất của họ) để thử vận may, nhưng nhiều người trong họ đã lãnh cái chết. Hãng tin Bloomberg tháng 1.2001 có bài viết cho biết trong 2 năm qua, ít nhất 7 người dân Bắc Mara đã bị lực lượng an ninh mỏ vàng tại đó giết chết, trong khi 15 người khác bị thương nặng.

Một trong những người bị giết có Mwita Werema, người cha của 4 đứa con, bị giết một ngày sau khi giá vàng đạt kỷ lục vào tháng 10-2009. Ngoài ra còn có Chacha Nyamakono, một cậu bé sắp trở thành người đầu tiên trong gia đình hoàn tất giáo dục căn bản. Và Daudi Nyagabure, bị bắn khi nôn nóng xây dựng tương lai cho người vợ đang mang thai của anh. Điều đáng nói là cảnh sát biết ít nhất 4 vụ giết người trong 7 vụ trên, nhưng đều không can thiệp, cho rằng các cư dân địa phương đã phạm pháp khi tính vào mỏ vàng ăn trộm quặng. Điều đó đồng nghĩa với việc tuyên án tử hình cho hành vi ăn cắp quặng mà không cần xét xử. “Họ không hề bắt giữ hay mang người ta ra tòa. Họ chỉ đơn giản là bắn người ta”, Machage Bartholomew Machage, một thành viên Hội đồng huyện Tarime, nói.
Theo Hòn Rồng (Thế giới & Hội nhập) (Hòn Rồng (Thế giới & Hội nhập))
Xem bình luận

TIN ĐỌC NHIỀU

Đã đến lúc cần chấm dứt sự phân biệt giữa người mua dâm và người...
Trong tất cả các văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ về dự án tuyến...
Đối tượng này nhắn tin đe dọa tới sự an toàn của bản thân ông Huỳnh...