Thứ Ba, ngày 21/01/2020 19:20 PM (GMT+7)

Truyện dự thi: Cánh cò cõng nắng

authorPhạm Đức Long (Gia Lai) Thứ Bảy, ngày 14/12/2019 07:00 AM (GMT+7)

(Dân Việt) Chỉ mấy chục năm mà đất trời, lòng người trải bao dâu bể. Chiến tranh bom đạn, rồi con người tàn phá, đã có thời chẳng nhác lấy một bóng cò. Ruộng quê như cõi vô hồn.

   

Hồi trước Quản Tiều là người trông giữ cả khu rừng. Có người nói, Pháp giao cho làng cắt cử. Cả khu rừng mênh mông phía thượng du, từ xưa đã là nơi nước sinh, là nguồn sống cho cả làng. Trên rừng, mạn cao là cây dẻ, cây trâm, cây găng, sung vả; mạn thấp là sim mua, gắm, muồng muồng. Mùa nào quả ấy. Mùa dẻ ra hoa thơm nức cả vùng. Đêm đêm hương đưa về tận giấc ngủ của làng. Những đồi sim ngày xuân nở tím rực, ong vo ve nườm nượp. Đến hè quả trĩu núc. Những quả sim tròn quay, tím thâm nhẵn bóng như lưng trâu no cỏ. Ai đi rừng về cũng có dúm quà cho trẻ. Hè có nhiều thứ cây chín, cũng là mùa chim chóc sinh sôi. Những bụi lau cù, những bụi pheo ri bìm bìm quây tổ rậm rực. Cây đại thụ chim chiêng liêng kết tổ cao vút. Tiếng kêu, tiếng gù râm ran đầy khe suối. Những con khướu hót xa lơ, như đưa người ta về miền hồng hoang cổ tích...

Gặp năm đói, người ta nhìn hết vào rừng. Có hố củ mài, người sau đào thấy xương người trước chết rục. Những bụi nứa sum suê, người trước chặt, người sau vô tình dính lao mà thương tích. Là ngọn nứa người trước vô ý dứt quá cao, treo trên ngọn cây khi bị giật mạnh là phóng xuống. Nhưng rừng vẫn là cứu cánh mưu sinh.

 truyen du thi: canh co cong nang hinh anh 1

Cửa rừng là một lối độc đạo. Ngay bên tả lối vào, người xưa xây cái miếu thờ thần rừng. Những ngày lễ trọng, quan viên và dân làng phải vào thắp hương lễ bái. Xin thần rừng cho yên ổn, lại cho cái nuôi sống dân làng. Giáp tết sau lễ cúng, coi như “ông cửa rú, mụ cửa khe” đóng cửa. Tuyệt không ai dám vào rừng. Phải qua Giêng, làm lễ cúng tạ, thần rừng mới lại mở cửa cho muôn dân. Sau thì lễ nhạt, rồi mưu sinh xô bồ, người ta bất chấp. Sức người muốn vượt sức rừng, thi thố với rừng.

Từ khi Quản Tiều nhận lãnh việc trông coi rừng, trật tự xa xưa mới được lập lại. Ai muốn vào rừng phải hỏi xin. Lấy thứ gì phải được phép. Đang là một tá điền, bỗng chốc trong mắt của mọi người, Quản Tiều trở nên quyền uy. Lắm kẻ xưa nay chẳng coi hắn ra gì cũng sinh ra ganh tị. Quả thực Quản Tiều là người lực điền. Hắn có dáng cao to sức vóc, siêng năng hoạt bát. Bản tính lại chất phác, cương trực. Chọn hắn giữ rừng là đúng người đúng việc. Hiểu rừng, yêu rừng, ngày ngày Quản Tiều chăm lo phát dọn, gom hết dây rợ rác rưởi, đường đi lối lại phong quang. Nhận thấy trong rừng có vùng trũng như đầm lầy, xung quanh mọc đầy lau sậy, hắn nảy ra ý tưởng trồng tre trồng trúc. Là vùng trũng ấy có một triền toàn cây trúc vàng óng chen trong lau sậy. Chỉ cần phát quang cây cỏ dại, trúc đã tự mọc thành khu rừng thơ mộng. Giữa những cồn đất bán ngập, Quản Tiều bỏ công không biết bao nhiêu ngày tháng trồng cả một khoảnh pheo ri. Đó là loại tre rừng có gai chằng chịt, thân cành níu giữ ràng rịt nhau khăng khít, chịu được tất cả bão dông, lũ lụt. Những chân nước lầy thụt, Quản Tiều bằng đôi tay lực điền phát cuốc, vắt đất mà nên những đám ruộng bậc thang thoai thoải xinh xinh. Lúa một vụ mà ăn đủ năm. Những chân ruộng cao, mấy cơn mưa đầu mùa tạo ẩm là lật đất gieo hạt. Lúa thì con gái, ban trưa mưa lớn, nước góc ruộng dâm dấp. Ếch đâu từ trong rừng dồn hết về chân ruộng kêu ồm ộp inh ỏi cả một vùng. Hết mưa, dứt tiếng kêu, Quản Tiều chỉ cần mang cái oi Vịt đi một vòng là được hàng mấy chục con ếch. Là lúc lũ ếch say tình cặp cứng vào nhau, chỉ cần lội và nhặt. Ếch nhiều ăn chẳng hết thì cho. Vui thì cứ bắt. Của trời, lộc trời! 

Đến tầm chớm Thu, lúa trổ bông phơi mau, gió heo may trỗi lên man man. Lúc ấy cá rô ruộng đớp tom tóp. Là cá ăn hoa lúa, gọi là ăn mau. Thiếu cái ăn thì đi câu nhấp, bắt những con to khỏe háu mồi. Cuối thu có trận mưa tràn bờ, gọi là mưa sóc, đơm đó lớn bắt cá tràu xuôi nước. Người xưa có câu: Mưa sóc con cóc cũng đi! Vào đầu hanh, lúa cúi ngọn, cá đã no béo trong mùa lúa, bắt đầu tìm đường chạy về vực sâu trốn rét qua Đông. Quản Tiều chỉ cần tháo nhẹ những ruộng bậc thang nối thông vào nhau, nước rả rích nhập về một dòng. Cuối dòng nước róc rách nhẹ trôi ấy, đặt một cái đó theo thế mở miệng dốc ngược, tất cả cá trong những đám ruộng đều nhao vào hết. Bọn cá rủ nhau đi không kể ngày đêm. Cá chớm Đông, xương mềm đầu mềm, béo ngậy. Cá ấy kho với quả dành dành chín vàng hươm, thơm, ăn cơm gạo mùa mới coi như nhất hạng. Thế là no đủ. Quản Tiều chẳng ước gì hơn.

Một ngày cánh đồng làng Hạ ngập trắng cánh cò, chấp chới phau phau. Thì ra rừng tre trúc của Quản Tiều là cái nôi đầm ấm cho đàn cò sinh sôi. Quản Tiều có hẳn một vườn cò. Cả ngày đàn cò ấy sà về đồng lúa làng Hạ bắt tôm bắt tép, rỉa lông tắm nắng. Chiều sập, cả lũ bay về núi lao xao. Cánh đồng làng Hạ từ ngày có vườn cò, trở nên thơ mộng. Trên thảm lúa xanh ngút ngát, điểm những sắc trắng nõn nà, lúc chấp chới lúc tĩnh lặng. Chiều chiều những cánh cò dập dờn trên sóng lúa mượt mà êm ả. Nó gợi nên một màu ấm no thanh bình chốn lương thôn. Cánh cò yên vui đi cả vào giấc mơ nhà quê. Có cụ đồ Nho trong làng nói: Theo Hán Việt, Lạc nghĩa là lúa. Người Lạc Việt là người Việt trồng lúa nước. Phân biệt với các tộc Việt khác. Chim Lạc là chim trên ruộng lúa. Là cò, vạc, hạc! Có lẽ đúng. Đồng lúa và cánh cò tự làm đẹp cho nhau. Như tranh. Như mộng!

Vườn cò Quản Tiều bỗng chốc có tiếng trong cả vùng. Có người mê say cái đẹp hoang dã, muốn thâm nhập trải nghiệm. Cũng có kẻ nhìn nó là nguồn lợi muốn xà xẻo bằng mọi cách. Nhiều kẻ lợi dụng vào rừng bẻ măng, bắt cò đã bị Quản Tiều phát hiện, tịch thu và cấm chỉ. Rừng sinh sôi, người lương thiện thì vui, kẻ giảo hoạt lại sinh thù oán. Cái tay vơ váo cù bơ bỗng chốc có bao nhiêu quyền truy quyền xét.

- Cháu xin ông. Đường nào cái măng cũng bị bẻ rồi! - Mấy đứa con nhà Tàng giấu những đoạn măng mập mạp trong bó củi vẫn không thoát.

- Không được. Thà để hư, không tiếp tay gian dối. Rồi lờn. Bẻ xong xin. Thế còn ra gì. Có mà hết rừng à.

Bực tức. Tiu nghỉu. Những cái cổ họng lẩm bẩm thề độc rồi lủi...

- Ê, thằng kia. Con ai mà tự tiện bắt trứng cò.

- Cháu thấy nó rớt.

- Láo. Trứng rớt mà không bể. Lạ!

Trứng cò, Quản Tiều vất vả cả buổi tìm lại tổ mà trả. Những cây măng, hắn phải lúi húi lước, chẻ. Tìm củi luộc, sấy. Ngày khô lại phải dùng bồ lừng mang về làng cho người quen. Hắn lẩn thẩn làm, lẩn thẩn nghĩ. Rừng chẳng phải vô hạn. Lấy của rừng phải có chừng độ, tiết độ. Lòng tham sẽ giết chết rừng!

*             *               *

Cái năm ấy đang yên bình, thì làng Hạ bỗng như cơn lên đồng. Có người về “bắt rễ xâu chuỗi”, là tiếp cận những người nghèo khó, bị o ép, bị bóc lột. Khuyên nhủ họ cách đấu tranh giành quyền lợi. Những rễ, những xâu, những chuỗi đêm ngày xầm xì chuyện này chuyện nọ. Rồi nghe ngóng, báo cáo. Đêm đêm nhà giàu bắt đầu phải đóng kín cửa. Sợ kẻ ẩn danh rình mò nghe lén, rồi ném đá. Sau vận động là đến lúc người nghèo biểu lộ ý chí. Buổi tối những ngọn đèn chai, những bó đuốc rực làng. Nông dân đi thành hàng chỉnh tề, người đi đầu hô lớn: Đả đảo địa chủ cường hào ác bá! Đoàn người theo sau hô đế một câu: Đả đảo!

Làng Hạ tự dưng hừng hực một không khí lạ, từ khai thiên lập địa chưa bao giờ có. Rồi hội họp liên miên. Tìm cho ra địa chủ, cường hào ác bá. Người ta tranh nhau làm cố nông. Làm người nghèo tứ cố vô thân.

- Nhà tôi sao lại bảo trung nông. Có cái gì đâu? Trung sao được - Bà Chanh chối phăn phắt.

- Vậy thì bần nông!

- Cứ tiêu chuẩn nồi đồng mà xét - Bà Chanh vẫn một mực không chịu - Nhà tôi toàn nồi đất, là cố nông rồi!

Kỳ thực bà cũng đã từng có một cái nồi ba bằng đồng cũ kỹ từ mấy đời. Tháng trước đã bị trộm cuỗm mất.

Thấy nhà Chanh ý kiến quyết liệt mà được việc. Vợ Quản Tiều cũng lên tiếng.

- Nhà tôi có ruộng đâu mà địa chủ.

- Cả cánh rừng thế!

- Rừng là của làng. Nhà tôi chẳng có gì!

- À, nhà Quản Tiều có Vườn Cò. Vườn Cò hàng chục mẫu, làng này ai có!

Nghe mà đau. Mà đuối lý. Thế là Quản Tiều thành “Địa chủ Cò”. 

Một hôm, đoàn người lôi một số kẻ nhà giàu ra cây đa gần bãi đất trên khuôn viên đình làng để đấu tố. Họ đào một cái hố đất sâu đến cổ người lớn. Tay Ất bị đem ra đầu tiên. Hắn bị trói tay giật cánh khuỷu, hai người lực lưỡng xách tay thả xuống hố.

- Mày ác lắm. Tranh cái ao rau muống nhà tao - Tay Tàng cà xỉn, mặc cái quần nâu lửng rách lua tua, dơ cẳng chân đạp vào mặt Ất, trừng mắt quát.

- Mày hiếp bà ba lần nhá! - Một chị phụ nữ teo tóp gí ngón tay vào trán Ất, kêu than, tố khổ.

Thực tình tay Ất cũng chẳng phải là địa chủ nòi. Nguyên hắn là tá điền, làm thuê cho một nhà địa chủ làng khác. Vì sức vóc khỏe mạnh, lại sáng dạ, ham làm, được ông chủ thương, quý, cho một miếng đất. Từ đất ấy hắn giỏi giang chăm chỉ nên giàu. Mọi người sẵn ghét nhà giàu, được lúc trút bỏ mọi mặc cảm tự ti, thấy hắn thân phận chẳng khác gì mình mà lại hóa giàu. Đạp cho nó chết luôn, cho hả dạ bõ ghét!

Quản Tiều cũng thuộc đối tượng bị đấu tố. Để yên thân, trước đó mấy hôm, hắn tìm kế lủi. Quá quen thuộc khu rừng, hắn biết chỗ có thể nương thân yên ổn cho qua kỳ hoạn nạn. Trên rừng có cái gọi là Lèn Ngồi. Đó là một mảng núi đá vôi trồi lên trên núi đất. Đá vôi xanh, đất đen, mọc lên một tập hợp cây sanh si rễ tua tủa, khác hẳn với các cánh rừng trên núi đất. Có vẻ như là một hòn núi chìm trong một dãy núi. Người xưa bảo, núi đá vôi tự lớn lên. Tuy vậy cái Lèn Ngồi thì trải bao đời không lớn được chút nào. Có chuyện, ngày trước vì một bà đi hái lá lằng, ướt váy, nhân một mình giữa rừng cứ tuột ra phơi lên mỏm đá xanh sạch bóng. Bà thì ngồi tô hô đợi cho váy khô mới về. Vì bị cái váy đè, nên núi đá ấy mãi chìm trong núi đất, không lớn lên được nữa. Người đời gọi là Lèn Ngồi.

Quản Tiều từ lâu đã khám phá ra dưới những mỏm đá vôi của Lèn Ngồi, khuất trong những khóm cây rậm rịt xanh tốt quanh năm, giấu kín một cái hang sâu thăm thẳm. Hang Lèn có miệng nhỏ nhưng luồn sâu tận ruột núi. Khi biết mình thuộc diện bị đấu tố, Quản Tiều nhanh chân hổ. Rừng là thế giới của hắn.

- Quản Tiều đi đâu?

- Không biết! Nhà cháu cũng đang cố tìm mà chẳng thấy tông tích.

- Láo! Lại dám bao che.

- Nói dại, hay ông ấy đã chết. Hoặc lỡ bị khái tha mất! Có khổ không!

Đận ấy, làng có nhiều kẻ hả hê, nhưng cũng lắm người khốn khổ. Có người bị đặt điều, tố láo, nói điêu, vu vạ. Cái việc nó lạ quá, đến nhanh quá, bất ngờ quá, như mơ, chẳng ai kịp thấu nổi mình. Chẳng hiểu cái gì đang xảy ra!

Quản Tiều trốn đời bằng cách tìm một chỗ kín đáo dưới hang ngầm Lèn Ngồi làm chốn dung thân. Thỉnh thoảng ông cũng ra ngoài hái trái rừng. Người nhà vẫn bí mật tiếp tế cái ăn cho ông vào những đêm khuya lặng lẽ. Thường là những miếng khoai luộc chín thái mỏng, phơi vào cái mẹt cho khô, giấu trong người như cách tiếp tế thời hoạt động bí mật. Khoai ấy cứ nhai chậm rải tìm cảm giác ăn, tu với nước suối. Lâu lâu cũng có chút cơm cá, hoặc quả trứng. Mọi việc bí ẩn như cái sự mất tích của ông vậy. Đêm thanh vắng, những con chim rừng rúc trong đám cây xôn xao thăm thẳm. Chiều chiều tiếng khướu hót, tiếng mang tác thê lương. Ban đầu lòng Quản Tiều chứa chất bao nhiêu sầu hận. Xa con người, vắng tiếng người lại thấy nhớ nhung thèm khát. Mặc dù thỉnh thoảng cũng gặp mặt người nhà, có chút chuyện trò nhưng là thì thào thì thụt như kẻ gian bàn chuyện gian. Sau đó là khôn nguôi nỗi lo gia đình người thân, bao mối bòng bong. Ngồi trong lòng hang, hắn nghĩ về đời người. Toàn người khổ đấu nhau, tố nhau. Cái được cũng chẳng là bao. Như chắt Nạ đấu tích cực nhất cũng chỉ được cái cối đá xay ngô. Chung quy cũng vì cái nghèo. Bao nhiêu đời nay, có mấy người dư dả cái ăn. Người đói nhìn người có miếng ăn vừa thèm khát vừa uất ức. Năm Ất Dậu người chết đói như ngả rạ. Ngoài chợ, có người đàn bà đói quá, sà ngay vào hàng cám cướp được một nắm cho vào mồm. Cám khô nghẹn, chưa kịp nuốt, người ta đã xúm lại vả sưng mồm, cho trào ra bằng được. So với con người, cái ăn ít quá! Bao nhiêu đời làm tá điền. Đời hắn cũng chẳng khá hơn, có chăng chỉ đôi miếng ăn thường ngày lưng lửng bụng. Nhưng nếu được giàu có cũng đâu phải tội lỗi. Chỉ có ác, xấu mới là đáng tội. Mà hạng người nào cũng có thiện, có ác. Đâu chỉ có cái ăn, có tí của mới ác. Hắn ước yên bình để làm người không khổ. Cứ nghĩ lẩn thẩn, Quản Tiều bỗng tủi thân bật khóc.

Một ngày đoàn người cầm súng ống, giáo mác ập tới cửa hang kêu hàng. Là có kẻ ngầm theo dõi tố giác. Hôm ấy Quản Tiều bị trói giật cánh khuỷu đưa đi biệt tích.

Nhà Quản Tiều coi như tan nát. Bà vợ quá đau buồn đổ bệnh mà chết. Hai đứa con trai phiêu dạt tứ chiếng. Những ngày đầu cải cách, không ai dám thuê người. Cùng đường, thằng anh phải gửi em cho nhà bác họ. Một mình âm thầm trốn chui trốn lủi lần mò vào Nam. Sau thằng em cũng bỏ xứ. Thằng cả nhà Quản Tiều vào Nam, cứ đi như ma nhập thế nào sang tận đất Cao Miên. Người Miên bắt lại, trả về cho một chủ đồn điền cao su. Năm biết tin sửa sai, nghĩ gia đình mình sẽ được giải oan, thằng cả có trở về quê tìm em, và cũng để nghe thêm tin tức về người bố xấu số. Không còn tung tích, nó biệt luôn.

*             *               *

Thời chiến tranh phá hoại, không đâu một ngày cánh đồng làng bị trút mấy tràng ca nông veo véo. Rồi mấy quả bom vu vơ trên trời rơi xuống giữa cánh đồng, thành mấy cái ao sâu hoắm. Chẳng ai hề hấn gì, chỉ chết mấy con trâu. Làng bất ngờ được bữa liên hoan lớn.

Những năm đói kém, lại rét kinh khủng. Trời cũng dữ dằn hơn. Thêm thời chiến, thiếu đói càng thêm thiếu đói. Những con trâu ngã Đông chỉ còn da bọc xương. Cả làng xúm lại xẻ thịt, phân phối. Bộ da trâu làm sạch lông luộc kỹ xâu lạt treo gác bếp dành tết kho chung với thịt mỡ lợn. Tết món quê hào phóng nhất là da trâu ninh nồi bánh chưng cho mềm, thái miếng, nấu lẫn bầy nhầy thịt lợn. Ăn nó dai dai dòn dòn ngầy ngậy. Có cảm giác được bữa no thịt. Con nhà Nhỡn, có đận ăn quá nhiều da trâu, qua ba ngày tết tích ruột phải cấp cứu bệnh viện, hút chết. Xương trâu già cũng là món có thể thỏa mãn cơn thèm thịt. Nồi hầm mênh mang, thêm quả đu đủ xanh, ăn được đến mấy ngày. Con trâu chết rét không bỏ một chút gì. Nó làm nên một bữa tiệc thịnh soạn cho cả làng. Ngày Đông, người người vào rừng hái củi. Đến lúc tất cả các gốc sim gốc mua đều bị cuốc bật lên để làm cái đốt. Gộc to nấu bánh chưng. Gộc nhỏ đun cám lợn, làm cái sưởi rét cho người già. Làng quê xác xơ. Núi rừng xác xơ. Rừng hết cây, trơ ra những ngọn đồi trọc lóc. Một trận mưa, bao nhiêu cát đổ cả ra cánh đồng. Rừng hết mưa là hết nước. Những con khe con suối thơ mộng khi xưa, nước trong leo lẻo, bờ mọc đầy hoa kim ngân, hoa dành dành thơm ngát, bây giờ quanh năm kiệt nước, nông choèn hoẻn, cát trơ tin hỉn. Những loài chim, loài cò cũng bỏ đi biệt xứ. Ruộng đồng mất mùa đói kém, cua cá lại bỏ người mà đi. Là ruộng ngộ độc hóa chất, như vùng đất chết. Thiên địa nhân tương giao không còn. Con người đói khổ, coi như cùng đường thật là kinh khủng. Đến buổi hòa bình, người được đi lại tự do hơn. Dân làng Hạ tứ tán khắp nơi. Họ góp phần làm nên cuộc tàn sát cây cối rừng rú bốn phương trời.

*             *               *

Thời đổi mới, thằng Cách, cháu nội Cả Ất tự dưng đi làm ăn xa đâu về, xin xã đấu thầu một giải đất hoang hóa trọc trơ đá sỏi ven chân núi. Đó là một cái lòng thung cạn. Cái chí ham làm đến lúc được cởi mở. Mấy năm trước, đất hoang này mọi người chỉ biết nhìn. Anh có ý đồ nhảy ra làm ăn riêng đã là trọng tội. Người người đói thì lên rừng chặt cây kiếm đồng tiền lẻ. Cuốc đất cày cấy coi như kẻ tư lợi, kẻ càn rối. Thì đói chung cả làng. Anh siêng như anh nhác.

Cách ngăn con khe nhánh tạo nên cái hồ hàng trăm thước vuông. Hắn thả ngàn vịt đẻ. Trứng nhỏ, trứng xấu bán cho dân làng ăn tươi. Trứng tốt ấp nở con giống bán cho dân tứ chiếng. Hắn tâm niệm: “Bần cư trung thị vô nhân vấn, phú tại sơn lâm hữu khách tầm”. Đồng rừng bán sơn địa là xứ sở của bò. Xưa nay người làng chỉ chú trọng nuôi trâu để cày ruộng sục. Hắn làm ngược. Bò là thứ mắn đẻ hơn trâu. Hắn cày bung đất bãi đất rừng. Cách như con trâu điên quần quật xứ hoang tàn khe suối. Khi chưa có máy ấp trứng, hắn tự mày mò ấp vịt bằng thóc rang. Cứ tùy tuổi trứng mà rang thóc già thóc non cho phù hợp. Chỉ cần ép quả trứng vịt lên mi mắt, hắn đã biết mẻ trứng nở được mấy thành. Đó là thời độc chiêu của Cách. Khắp thập phương đến đặt hàng nườm nượp. Khi lương tháng cán bộ chỉ mấy trăm ngàn bạc, mỗi ngày hắn đã có thu cả mấy chục, có khi cả trăm ngàn!

Cá nhiều, lúa nhiều, bò nhiều, vịt nhiều, hắn đâm nổi tiếng. Có người bảo: Cái máu địa chủ nó ghê thật, truyền đến mấy đời!

*             *               *

Từ khi có chủ trương hội nhập, làng quê thay đổi hẳn. Sản xuất tốt lên, nhiều lên. Con đường làng đẹp hơn. Hạ tầng đầy đủ hơn, năng lực đầu tư cao hơn. Năng lực sản xuất cao hơn một cách bất ngờ. Làm nông khỏe hơn mà được nhiều của hơn. Đến lúc từ cày đến gặt hái, tuốt lúa, xay xát đều có máy. Làng có điện, thủy nông đủ nước, làm mấy vụ là tùy.

Rồi trên về đo đạc cả vùng đồi trọc, khe suối. Họ làm quy hoạch đầu tư. Dân nghĩ đất ấy trọc trơ, coi như là đất chết. Chẳng thể làm được gì! Ấy vậy mà chỉ sau mấy năm chẳng ai ngờ được. Một người Việt nghe nói từ bên Pháp bỏ tiền bỏ của đầu tư trồng lại rừng, khôi phục lại vùng tre trúc, xây thêm hồ ở thượng nguồn. Họ làm khu du lịch sinh thái. Có đường bộ leo núi. Lại có hệ thống ròng rọc lên tận Lèn Ngồi. Cái hang hồi trước Quản Tiều tìm ra và trốn ở đó dân làng quen gọi là hang Quản Tiều. Cạnh hang, nhà đầu tư cho xây một miếu thờ thần rừng, không hiểu sao dân làng Hạ cứ gọi là miếu Quản Tiều. Du khách mỗi lần lên đó đều thắp hương nghi ngút. Nhiều lần dân trong vùng chứng kiến ông chủ thắp hương ở miếu Quản Tiều, tự dưng hương nhang bùng lên phừn phựt. Chắc là trời đất linh ứng. Vì việc lạ ấy, người ta đồn đoán, ông chủ nọ chính là hậu duệ trở về thờ tự vong linh của Quản Tiều. Một điều lạ nữa là Lèn Ngồi trong vài năm đã thấy cao lớn lên hẳn. Người làng Hạ có ba giả thuyết. Đã lâu rồi chẳng ai lên lèn, đồi núi trơ trọc khiến đất cát bị trôi, qua bao nhiêu năm làm Lèn Ngồi thòi ra, nhô cao lên. Cũng có thể do quá nhiều du khách qua lại, dẫm đè, đất bị chuồi đi, sụt xuống mà làm lèn cao hơn. Có người còn mạnh dạn đoán, ông chủ đã cho nhân công khoét núi đất cho lộ rõ ngôi lèn và miệng hang để thu hút khách... Bao nhiêu là đồn đoán. Chỉ biết Lèn Ngồi mấy năm qua đã lớn lên, cao thêm trong trời đất. Hang Quản Tiều bây giờ được mở rộng miệng, xây dựng đường lên quanh co, đường vào khúc khuỷu. Trong lòng hang được ráp hệ thống thông gió, hệ thống đèn màu kỳ ảo. Thì ra cái hang này mênh mông. Chạy dài đến một vùng khe thăm thẳm trên thượng nguồn, rồi mở ra một cửa giáp con vực sâu, nằm trọn trong lòng một thác nước cao vợi.

Rồi sẽ có khách phương xa là người ngoại quốc đến và biết về làng Hạ. Trước mắt, rừng tre trúc đã lại xanh màu, vươn cây. Đàn cò trắng đã trở về nhao nhác. Cảnh tượng ấy như những đứa con xa tận phương trời thăm thẳm lại trở về. Nó cũng gợi cho người ta nhớ lại một thời ngây ngô, mảnh đất này có “Địa chủ Cò”. Trên đồng làng Hạ, những cánh cò lại chấp chới phiêu diêu. Như những thiên thần ngày ngày cõng nắng về làng quê! 

Xem bình luận

TIN ĐỌC NHIỀU

Bài viết đầy tâm trạng của Cát Phượng khiến những người yêu thương...
"Làm như trách nhiệm vụ và bổn phận của tôi là phải cho mượn tiền và...
Hồi lên tám lên chín, điều ao ước lớn nhất hàng năm của tôi là Tết....