Kể chuyện làng: Làng trong kí ức

Thứ bảy, ngày 28/03/2020 08:00 AM (GMT+7)
Trong kí ức của tôi, bất cứ nơi nào gắn với tuổi thơ đều gọi là quê hương. Cũng không nhất thiết nơi ấy gọi là quê cha, quê mẹ hay nơi có gia đình mình ở đó. Làng của tôi là quê ông ngoại, mảnh đất cuối cùng của huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa - làng Tuân Đạo.
Bình luận 0

Người ta thường nói “Giàu con út, khó con út”. Nếu coi làng tôi là đứa con út, thì nó là đứa con út nghèo. Một vùng đồng chiêm trũng không có “thâm canh, tăng vụ” mà mỗi một năm chỉ mỗi một vụ lúa thôi, vụ lúa tháng 10. Còn lại, đồng ruộng thì mênh mông, con người cần cù lam lũ mà đành để ruộng vườn bỏ trống. Bởi cái “rốn lũ” hồi ấy chưa được tưới tiêu. Vụ lúa còn lại là vụ lúa rài, như đứa con rơi, con vãi của đồng, được chăng hay chớ mà mãnh liệt sức sống và thơm thảo chắt chiu.

Cái nghèo làm cho khuôn mặt người làng tôi cứ hao gầy, phờ phạc và có một vẻ nhẫn nại rất riêng. Chúng tôi bám mảnh đất đồng chiêm vừa chua vừa trũng ấy mà lặng lẽ đi qua có khi là cả một kiếp người. Những mùa đông dài dằng dặc đi suốt tuổi thơ tôi. Lạnh từ làn khói xám trên mái tranh mỗi trưa chiều đỏ lửa lạnh đi. Lạnh đến mức chúng tôi toàn đi bắt cá rô đồng “chết giá” những con cá rô không béo vàng như mùa tháng 10 ăn lúa rụng mà chỉ sống thoi thóp toàn xương nằm đờ trong nước. Nó sẽ là bữa ăn cải thiện của cả nhà bù cho những rau dưa, muối vừng, muối trắng. Có điều, khi lên khỏi ruộng với xóc xách ít cá tôm, lũ con nít chúng tôi đều xám đen vì rét, áo quần nước chảy tong tong. Khi ấy, khổ mà không hề biết rằng mình đang khổ. Chỉ thấy niềm vui lấp lánh. Thì đây, có ngay bùi nhùi bén lửa. Cái thứ rơm nếp từ độ tháng 10 ngoại tôi dành tuốt chổi, còn phần là lúa không dùng đến thì tuốt bện bùi nhùi. Cái bùi nhùi rơm thơm đọng trên bàn tay gầy thơm đi. Tôi cứ vừa đi vừa lủng lẳng cái bùi nhùi rơm ấy như một vật bất li thân. Thỉnh thoảng phồng má lên thổi phù phù. Ánh lửa chỉ lóe lên một chút, cháy như một thứ dây cháy chậm từ tinh mơ đến tận xế trưa chưa hết. Đôi khi tôi cứ nghĩ, cái bùi nhùi rơm ấy sao giống như tình yêu của Ngoại, bền bỉ, lặng sâu mà luôn theo tôi suốt năm suốt tháng. Cua, cá bắt lên thêm rơm bùn rạ gốc là đã cho lũ trẻ trâu nổi lửa dự tiệc. Trong cái rơm rạ ấy, thỉnh thoảng còn sót lại những bông lúa mẩy căng. Gieo vào lửa là nó nổ tung. Mỗi lần cái bỏng rơm nhỏ xiu xíu, trắng tinh nổ tung trên nền than xám là năm, bảy đứa thò tay vào tranh cướp. Ngon ở phần ăn thì ít, ngon ở cách ăn thì nhiều.

Đêm mùa đông làng tôi thường không ngủ sớm. Bếp lửa bao giờ cũng đốt ở dưới nhà. Nó là những gốc sắn mà mợ tôi cất công đi gánh từ vùng núi Tam Điệp về, xếp đống trên bếp để dự trữ cho những chậu than giữa nhà như thế. Mỗi đêm đốt một chậu than, già trẻ hơ tay bên bếp lửa. Than hồng, nước chua phèn làm cho má trẻ con vừa hồng vừa nứt nẻ, làm cho bàn tay, gót chân Ngoại cũng có vết nứt ngoằn nghèo. Những vết nứt ấy, thường mùa đông đến khi đắp chăn hay đắp chiếu vẫn muốn thò chân ra ngoài, như thế sẽ đỡ đau hơn khi vùi trong chăn ấm. Sau này lớn lên tôi cứ lẩn thẩn tự hỏi: “Vết của làng” sâu đến thế nào? Và sâu đến bao giờ thì xóa được? Hình như là không thể. Dù có bôi gót sen, gót ngọc thì người làng tôi đi xa vẫn lại nhìn gót chân nứt để nhận nhau mà không cần đến hỏi quê, xưng tuổi. Rồi cũng nhìn gót chân nứt ấy mà rưng rưng một nỗi nhớ quê, một nỗi bể dâu vời vợi.

Chậu than ấy ủ tro âm ỉ trong ngôi nhà tranh của Ngoại. Tối, tôi rúc đầu trong lòng Ngoại nghe Ngoại kể chuyện xưa. Từ cái ổ rơm của Ngoại, tôi nghe kì tích của làng. Từ những khởi nghĩa Bãi Sậy, vùng Ba Đình của Đinh Công Tráng, lũy tre làng tầng tầng lớp lớp bảo vệ gái trai của làng tôi như thế nào, cho đến những chuyện người dân hiền như hạt lúa củ khoai, bỗng một ngày trở thành “ma ám” đốt mất cái đình gỗ lim, xô đổ kho tượng phật, lấy chậu hoa của chùa về vứt ở bờ rào. Quê tôi có người đàn bà điên từ đó. Hàng ngày bà treo trên những cành cây cao thả hai tay nhảy múa cho đến tận ngày người nhà phải lên chùa làm lễ trả cái chậu hoa ngày trước bà mới khỏi. Thỉnh thoảng ông ngoại vuốt tóc tôi nói: "Con phải cố mà học, để vượt khỏi làng mình, để đi xa hơn làng nhưng phải biết lí giải và yêu làng mình hơn nữa”. Phải vì vậy không mà ông tôi đã kiên trì mấy năm trời dù mưa rát mặt hay nắng cháy lưng, dù đông cắt giá hay bão ngập vùng lúa non vừa mới cấy, ông cũng đều miệt mài chở tôi trên chiếc xe đạp cũ đi 14, 15 cây số xa làng đi học. 

Tôi đã xa làng như ông tôi từng ước. Đôi chân tôi cũng đã đi qua không biết bao nhiêu cái cổng làng từ Bắc chí Nam. Làng tôi cũng không còn đói nghèo như xưa nữa. Mỗi dịp về làng tôi đều thấy ngỡ ngàng trước ngói đỏ, trước nhà cao, thấy hoang mang trước những trẻ trai mà tôi không biết mặt. Chỉ đến khi cúi đầu trước ngôi mộ Ngoại, nghe trong gió, trong hương, trong khói lam chiều một ảo ảnh thân mờ tôi mới thấy mình an yên đến lạ.

Làng đã đổi thay, tôi cũng đã đổi thay. Nhưng có một sợi dây vô hình buộc tôi với làng, chỉ cần mỗi lần sợi dây ấy rung lên dù rất khẽ, tôi đều cảm nhận được để lặng lẽ tìm về. 

Nguyễn Thị Hiền 
Mời các bạn đồng hành cùng báo Dân Việt trên mạng xã hội Facebook để nhanh chóng cập nhập những tin tức mới và chính xác nhất.
Tin cùng chuyên mục
Xem theo ngày Xem