Chủ đề nóng

Kể chuyện làng: Thư dọc đường tàu

Thứ tư, ngày 08/04/2020 08:00 AM (GMT+7)
Những lá thư dán tem quân đội có, lại có những lá thư không có cả bì thư… đã rải trắng đường tàu của làng tôi những năm 79-80 của thế kỷ trước.Qua những lá thư ấy, người lính đã gửi thông điệp về cho cha mẹ mình, báo tin rằng họ đã ra biên giới phía Bắc để chống quân Trung Quốc xâm lược. Trong số đó, có một bức thư không được viết trên giấy, cũng không có bất cứ một ký tự nào và chỉ duy nhất một người “đọc” được nó. Đó là một bà mẹ quê của làng tôi- người sinh ra anh lính, tác giả của lá thư kỳ lạ nọ.
Bình luận 0

Trạm quân bưu không số

Tàu ngang qua cầu Bàu Ấu- làng của anh Nguyễn Rê. Ảnh: Phạm Đương

Có lần ngồi với người bạn, cũng là một cựu binh, chống quân Trung Quốc năm 1979, quê Hải Phòng, anh hỏi tên làng tôi rồi nhờ tôi định vị để anh dễ hình dung. Tôi nói: “Từ trong Nam ra, qua khỏi “ga Gà” một quãng chừng 5 cây số là gặp một ngôi làng nằm dọc đường tàu chừng 3 cây số ở phía đông…đó là làng tôi”. Anh ồ lên: “Vậy tôi biết rồi. “Ga Gà” thì quá nổi tiếng những năm sau ngày thống nhất đất nước. Còn ngôi làng đó thì mỗi lần tàu chạy qua, rất nhiều chú chó … đuổi theo tàu!”.

Là người sinh ra ở đó nhưng tôi rời quê từ rất sớm nên khi nghe anh bạn nói “chó đuổi theo tàu” tôi thật sự không hiểu ý gì. Hóa ra là những chú chó ấy thường canh chừng hễ mỗi lần tàu chuẩn bị chạy qua làng, mà chỉ tàu từ trong Nam ra thôi, là chúng … đuổi theo để kiếm xương gà! Khách qua “ga Gà”, tức ga Quảng Ngãi, thường mua gà, ăn xong vất xương xuống đường tàu, đúng vị trí ngang qua làng tôi. Cũng xin nói rõ là hồi đó, tàu mở toang cửa chứ không có máy lạnh và đóng kín bưng như bây giờ. Bởi thế nên lính hành quân ra Bắc mới có điều kiện thả thư xuống đường tàu “nhờ chuyển” chứ như bây giờ thì chịu rồi.

Sở dĩ có những bức thư của lính từ trên tàu thả xuống như vậy là vì, sau khi bộ đội Việt Nam tiến quân vào giải phóng Pnom Penh ngày 7.1.1979 thì ngày 17.2.1979, quân Trung Quốc đã tràn sang 6 tỉnh biên giới phía Bắc. Một bộ phận quân tình nguyện ở Campuchia lại vội vã hành quân ra biên giới Lạng Sơn-Cao Bằng để chống giặc. Đa số các đơn vị đều chuyển quân bằng tàu lửa. Từ Campuchia, lính ta theo đường 19 bằng xe nhà binh, về tập kết tại ga Diêu Trì (Bình Định) rồi lên tàu ra Bắc. Các cuộc chuyển quân thần tốc ấy không có thời gian để lính tắm giặt nói gì đến nắn nót viết thư rồi ra bưu điện gửi về nhà! Họ tranh thủ dưới ánh đèn vàng vọt luôn thiếu sáng nơi sân ga để viết vội mấy dòng gửi cho gia đình.

Làng tôi được chọn để họ gửi những lá thư không bì, không tem ấy là vì, nhiều anh lính của làng đã chuyển quân trên những chuyến tàu như thế. Chỉ cần thả những bức thư với vài dòng ngắn ngủi được viết vội vàng ấy xuống đường tàu, thế nào cũng có người nhặt được và trao tận tay người cần nhận nó. Có bao nhiêu lá thư được người lính “ký gửi” vào làng tôi những năm giặc giã ở hai đầu đất nước như thế? Chẳng một ai có thể đong đếm hết, chỉ biết rằng, cái “trạm quân bưu không số” của làng ngày nào tàu cũng chạy ngang qua để ngược lên biên giới phía Bắc ấy, luôn nhận những bức thư làm ấm lòng bao bà mẹ mong tin từ những đứa con ra trận. Họ đã chuyển tất cả những lá thư rải dọc đường tàu ngày nọ đến đúng địa chỉ mà người lính muốn gửi.

Trong hàng trăm lá thư ngày ấy, duy chỉ một lá thư không viết chữ nào nhưng vẫn giải mã được những gì mà người lính muốn nhắn với gia đình.

Bức thư không có chữ

Anh Nguyễn rê. Ảnh: Phạm Đương

Anh Nguyễn Rê năm đó (1979) 21 tuổi nhưng đã qua … hai mùa kháng chiến: một chống Mỹ và một chống Trung Quốc. Năm 1974, mới 16 tuổi nhưng anh Rê đã “nhảy núi” sau một đêm mấy ông cán bộ quân giải phóng về làng tôi vận động thanh niên nhập ngũ. Ăn chưa hết tạ gạo thì hòa bình, anh Rê về lại ngôi làng, nơi có mẹ anh- bà Xê đang mong con. Nhiều người trong làng cũng đi kháng chiến như anh Rê nhưng sau ngày thống nhất đất nước, ai cũng có việc, riêng Rê thì không. “Mình không biết chữ nên mấy anh trên xã cho về. Họ cũng có gợi ý là đi học bổ túc nhưng lớn tuổi rồi mà tập đánh vần quá khó nên mình thôi luôn”, anh Rê phân trần chuyện anh không tiếp tục đi theo cách mạng mà về làng bám lưng trâu.

Nhưng rồi số phận “làm lính” đã không buông anh. Năm 1976, Rê lại lên đường lần nữa, thi hành nghĩa vụ quân sự. Năm đó anh vừa tròn 18 tuổi, vẫn mù chữ như thời chống Mỹ. Hồi đó, việc đi nghĩa vụ quân sự miễn là sức khỏe tốt chứ mù chữ vẫn phải đi. Bà Xê một lần nữa lại tiễn con, nhưng lần này thì con bà lên đường trong tiếng nhạc rền vang cùng những lời chúc “chân cứng đá mềm” của các vị chức sắc của xã chứ không phải ra đi trong đêm như hai năm trước đó. Bà trao cho đứa con chiếc áo mới may vội để kịp ngày lên đường…

Anh Rê cùng với đoàn quân tình nguyện thần tốc tiến vào giải phóng Pnong Penh. Chưa kịp chọn nơi mắc võng, lệnh trên đã truyền xuống, cả đơn vị chuẩn bị lên đường trở lại Việt Nam để kịp ra phía Bắc đánh quân Trung Quốc.

Đêm ngồi ở ga Diêu Trì thật dài với Rê. Đồng đội anh tranh thủ viết vội những lá thư gửi về gia đình báo tin con chuẩn bị lên tàu ra ải Bắc nhưng Rê thì chẳng biết làm gì vì anh không biết chữ mà cũng chẳng nhờ ai được lúc đó cả. Và rồi anh quyết định theo cách của mình. Lúc tàu chạy ngang qua làng, anh sẽ vất chiếc áo mà mẹ anh trao lúc anh lên đường để thay bức thư gửi mẹ với hy vọng là bà Xê sẽ nhận ra thông điệp từ đứa con trai.

Bà Xê nghe tin lính theo tàu ra Bắc đánh Trung Quốc mà lòng như có lửa. Bà biết con mình mù chữ nhưng tại sao nó lại không nhờ đứa nào trong xóm viết giúp lá thư? Bà bám vào chút hy vọng nhờ vả ấy để mỗi sáng, khi sương còn chưa tan đầu ngõ, bà đã đi dọc đường tàu. Gặp tờ giấy nào bà Xê cũng nhặt lên mang về nhờ người xem giúp. Không một lá thư nào là của thằng Rê con bà.

Tình thương của người mẹ đã không cho phép bà Xê bỏ cuộc. Lại một buổi sáng nữa, bà đi dọc đường tàu. Nhìn thấy chiếc áo còn khá lành lặn nằm lăn lóc bên vệ cỏ, bà Xê nhặt lên. Bà nhận ra chiếc áo quen thuộc từ 3 năm trước, lúc bà tất tả xuống nơi tiễn quân để đưa cho Rê lên đường “có áo để thay”! Vậy là thằng Rê của bà đã ra Bắc từ tối hôm qua rồi…

Bà Xê nay thành người thiên cổ. “Bức thư” ngày ấy cũng đã theo bà để tan vào đất nhưng câu chuyện về đứa con mù chữ của bà “gửi thư cho mẹ bằng chiếc áo” thì trở thành đề tài về sự hiếu đễ trong mỗi dịp thanh minh của làng.

Phạm Đương
Mời các bạn đồng hành cùng báo Dân Việt trên mạng xã hội Facebook để nhanh chóng cập nhập những tin tức mới và chính xác nhất.
Tin cùng chuyên mục
Xem theo ngày Xem