Dân Việt

Trường hợp được cấp lại sổ đỏ theo quy định hiện hành

Việt Sáng 27/05/2023 09:00 GMT+7
Theo luật sư, Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP nêu rõ những trường hợp được cấp lại sổ đỏ theo quy định hiện hành.

Bạn đọc hỏi:

Tôi có thắc mắc trong việc cấp giấy chức nhận quyền sử dụng đất, mong được hỗ trợ.

Cụ thể là tôi có một thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận năm 2010 nhưng nay khi tìm sổ để sử dụng thì không thấy.

Tôi thắc mắc việc cấp lại sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) trong trường hợp nào?

Và quy định về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận hiện nay ra sao?

Về việc này, Luật sư Nguyễn Trọng Nghĩa - Đoàn LS TP Hà Nội cho biết, Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP nêu rõ những trường hợp được cấp lại sổ đỏ theo quy định hiện hành.

Trường hợp được cấp lại sổ đỏ theo quy định hiện hành - Ảnh 1.

Theo luật sư, Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP nêu rõ những trường hợp được cấp lại sổ đỏ theo quy định hiện hành.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) là gì?

Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hay còn gọi là sổ đỏ) là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

Cấp lại sổ đỏ trong trường hợp nào?

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

Do đó, khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị mất, hư hỏng, sai thông tin,… cần làm thủ tục xin cấp lại Giấy chứng nhận.

Căn cứ theo quy định tại Điều 77 Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai 2013.

Điều 77. Cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng do bị mất

1. Hộ gia đình và cá nhân, cộng đồng dân cư phải khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc bị mất Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp mất giấy do thiên tai, hỏa hoạn.

2. Sau 30 ngày, kể từ ngày niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã đối với trường hợp của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư hoặc kể từ ngày đăng tin lần đầu trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương đối với trường hợp của tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người bị mất Giấy chứng nhận nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận.

3. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đối với trường hợp chưa có bản đồ địa chính và chưa trích đo địa chính thửa đất; lập hồ sơ trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 37 của Nghị định này ký quyết định hủy Giấy chứng nhận bị mất, đồng thời ký cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã.

Như vậy, việc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đối với trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bị mất.

Còn trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận sẽ thuộc trường hợp cấp lần đầu chứ không phải cấp lại giấy chứng nhận.