Đng trưc nhng biến đi sâu sc ca thi đi, Đi hi XIV din ra trong bi cnh đt nưc đang đi mt vi c thi cơ ln thách thc chưa tng có. Đây là du mc quan trng đ đnh hình tương lai, th hin khát vng vươn mình, xây dng mt quc gia hùng cưng, phn vinh và phát trin bn vng. Nhiu vn đ h trng đòi hi tm nhìn chiến lưc và nhng quyết sách đt phá s đưc đt lên bàn ngh s.

Vi tinh thn “Đoàn kết - Dân ch - K cương - Sáng to - Phát trin”, Đi hi XIV hưng ti vic đ ra nhng quyết sách táo bo, to đà bt phá, biến khát vng vươn mình thành hin thc, đưa đt nưc tiến vng chc trên con đưng hi nhp và phát trin. Dân Vit Trò Chuyn xin đưc chia s quan đim, ý kiến ca nhng đi biu quc hi, nhà nghiên cu, thc hin chính sách, doanh nhân... v nhng k vng vào Đi hi XIV.

Hội nghị Trung ương thứ 15 Khóa XIII của Đảng. Ảnh: Phạm Thắng
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú chủ trì tổng duyệt công tác phục vụ Đại hội Đảng, ngày 14/1. Ảnh: TTXVN

Nhìn li chng đưng lch s các Đi hi Đng nhiu năm qua, ông đánh giá như thếo v s quan tâm ca ngưi dân và cán b đng viên đi vi s kin trng đi ln này?

- Qua 40 năm nhìn lại, sự tăng trưởng và vị thế của đất nước hôm nay là điều hết sức đáng mừng, khẳng định tính đúng đắn của con đường đã chọn. Động lực của công cuộc Đổi mới ấy xuất phát từ chính những bức xúc của nhân dân và được hiện thực hóa bởi những lãnh đạo dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Thực tế 40 năm qua đã chứng minh, khuyết tật bẩm sinh của mọi nhà nước là quan liêu và tham nhũng. Dù Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng vế "định hướng xã hội chủ nghĩa" đôi khi bị lãng quên, dẫn đến sự thoái hóa, biến chất ngày càng gia tăng trong một bộ phận cán bộ.

Kỳ này tôi rất mừng rằng để những đồng chí vào Trung ương thực sự “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, vừa là lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của dân, thì bên cạnh sự kiểm tra của Đảng, Ban Nội chính xác định cần nhất là ý kiến của dân. Không chỉ lấy ý kiến ở cơ quan, địa bàn dân cư mà phải xác minh cả phía gia đình, vợ con. Bởi lẽ tài sản tham nhũng thường không để ở nhà mà bị tẩu tán, cho người thân vay mượn hoặc mua đất đai nơi khác. Phải làm đến nơi đến chốn như vậy.

Thực tế qua các vụ án vừa rồi và nhờ tai mắt của dân, chúng ta mới vỡ lẽ nhiều điều. Có những trường hợp cáo bệnh xin nghỉ, nhưng thực chất là đã dính chàm.

Công tác nhân sự kỳ này làm tốt. Tuy nhiên, làm tốt đến mấy cũng khó tuyệt đối vì “Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người ai dễ mà đo cho cùng”. Có khi lúc chưa có chức quyền thì tốt, nhưng khi lên rồi, những tác động từ vợ con, họ hàng mới khiến cán bộ làm những điều sai trái.

Về nhân sự, kỳ này rút kinh nghiệm các kỳ trước nên làm thận trọng hơn; một số trường hợp đã lấy ý kiến nhân dân tại địa phương. Đặc biệt, việc bố trí Bí thư Tỉnh ủy hay lãnh đạo ngành công an, viện kiểm sát không phải là người địa phương khiến tôi tin rằng Đại hội sẽ đạt kết quả tốt; tình trạng tham nhũng, thoái hóa biến chất, tự diễn biến, tự chuyển hóa sẽ giảm đi nhiều.

Tuy nhiên, tôi cũng có kiến nghị: Chúng ta tiến nhanh, tiến mạnh nhưng vấn đề tiến vững chắc đang là điều nhân dân băn khoăn. Tư duy “vừa chạy vừa xếp hàng” rất phù hợp với thời chiến, nhưng làm kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội là một quá trình chưa có tiền lệ, cần đi từng bước. Mong rằng Trung ương quan tâm đến việc vừa làm vừa rút kinh nghiệm để tránh những sai sót không đáng có.

Ông thy nhng đim mi nào đưc thay đi rõ nét nht trong Đi hi XIV?

- Điểm chuyển mình rõ nét nhất trong tư duy kiến tạo lần này là quan điểm về phát triển bền vững, trong đó ba trụ cột Môi trường, Kinh tế và Xã hội được coi trọng ngang nhau. Đây là một tư duy rất mới và mang tính quyết định, bởi nếu chúng ta giữ được sự cân bằng này thì việc duy trì nhịp tăng trưởng cao mới thành công; ngược lại, nếu bỏ qua yếu tố bền vững, tăng trưởng nóng chỉ duy trì được một vài năm rồi sẽ vấp phải hàng loạt hệ lụy về môi trường và xã hội, chính những hệ lụy đó sẽ trở thành điểm nghẽn kìm hãm sự phát triển.

Thực tế cho thấy tăng trưởng cao dễ dẫn đến lạm phát, ví dụ như tăng trưởng 9 tháng đạt mức cao nhưng nếu thiếu biện pháp kinh tế - xã hội đồng bộ thì chỉ số giá tiêu dùng sẽ tăng vọt. Dù Việt Nam có lợi thế tự chủ được các mặt hàng thiết yếu, chúng ta không thể mãi chống chịu trước các "cơn bão" lạm phát từ bên ngoài. Do đó, muốn đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong cả nhiệm kỳ tới, các vấn đề xã hội và môi trường phải được xác định ngay từ đầu với tinh thần làm thật, làm quyết liệt đúng chỉ đạo của Đảng chứ không thể "đánh trống bỏ dùi". Đây chính là kỳ vọng lớn nhất đối với chiến lược phát triển bền vững trong nhiệm kỳ sắp tới.

Về vấn đề đổi mới thể chế, điều được coi là "điểm nghẽn của điểm nghẽn", sự chuyển biến tích cực đã bắt đầu từ Kỳ họp thứ 8 với những chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm và sự thay đổi tư duy làm luật từ Quốc hội. Tuy nhiên, sự thay đổi này cần một quá trình chứ không thể diễn ra trong một sớm một chiều.

Công tác xây dựng pháp luật dù đang nỗ lực rất lớn với số lượng luật và nghị quyết được sửa đổi kỷ lục, nhưng cần rà soát kỹ lưỡng tác động qua lại giữa các luật để tránh tình trạng sửa luật hình thức mà không sửa luật nội dung gây tắc nghẽn. Chúng ta cần áp dụng triệt để công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) ngay từ khâu soạn thảo để nhận diện rõ việc sửa một điều luật sẽ tác động thế nào đến hệ thống pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó, quy trình soạn thảo cần đổi mới theo hướng Chính phủ phải có đầu mối thống nhất thay vì để các Bộ làm rời rạc như hiện nay, đồng thời cơ quan thẩm tra của Quốc hội cần tham gia ngay từ đầu để đảm bảo chất lượng và tính đồng bộ của văn bản.

Đối với kỳ vọng phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết 68 đã tạo ra luồng sinh khí phấn khởi cho cộng đồng doanh nghiệp, nhưng mấu chốt nằm ở khâu thực hiện. Ví dụ điển hình là chính sách hỗ trợ lãi suất 2% cho doanh nghiệp ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị), dù chính sách rất hay nhưng thực tế lại tắc nghẽn vì chúng ta chưa có quy định cụ thể, chưa "nội địa hóa" các tiêu chuẩn để xác định đâu là doanh nghiệp ESG. Điều này cho thấy nghị quyết muốn đi vào cuộc sống cần phải được thể chế hóa một cách thực tiễn, khả thi và phải gắn liền với trách nhiệm giải trình.

Để thể chế thực sự phát huy hiệu quả, công tác giám sát là yếu tố sống còn. Chúng ta cần tăng cường giám sát toàn diện: các ban Đảng giám sát việc thực hiện nghị quyết, Quốc hội giám sát luật, Chính phủ giám sát qua thanh tra, kiểm tra, và Mặt trận Tổ quốc thực hiện chức năng phản biện, giám sát xã hội.

Thực tế thời gian qua cho thấy sự lắng nghe và tiếp thu rất tích cực, nhiều kiến nghị của doanh nghiệp về phát triển công nghiệp công nghệ số, về môi trường hay các vướng mắc trong Luật Đất đai đã được sửa đổi trực tiếp vào luật và nghị quyết, giúp tháo gỡ khó khăn và đưa chính sách vào cuộc sống nhanh nhất.

Đại hội XIV của Đảng diễn ra từ ngày 19-25/1/2026 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia. Ảnh: Phạm Hưng

Trong bi cnh thế gii đy biến đng, theo ông khát vng vươn mình ca dân tc” mà Đi hi XIV hưng ti cn đưc hin thc hóa c th bng mc tiêu nào trong 5-10 năm ti đ ngưi dân cm nhn và đo lưng đưc?

- Khát vọng phát triển quốc gia chỉ có ý nghĩa khi người dân có thể nhìn thấy kết quả trong đời sống hàng ngày, chứ không dừng lại ở khẩu hiệu. Theo tôi, trong 5–10 năm tới, Việt Nam cần tập trung vào ba nhóm mục tiêu then chốt và có thể đo lường:

Về kinh tế và thu nhập, tăng trưởng GDP cần duy trì tốc độ hợp lý khoảng 8 % mỗi năm (đầu tư tăng trưởng GDP thông minh, hiệu quả, bền vững) đi kèm tăng năng suất lao động 5–6%/năm. Thu nhập bình quân đầu người cần hướng tới mốc 8.000–10.000 USD vào năm 2035. Quan trọng hơn là chất lượng tăng trưởng, nghĩa là phải tạo ra nhiều việc làm thực sự tốt cho người dân, chứ không chỉ chạy theo con số.

Về cơ cấu kinh tế, khu vực tư nhân cần trở thành động lực chủ lực, đóng góp tối thiểu 55–60% GDP. Việt Nam phải có lớp doanh nghiệp nội địa vươn lên trong chuỗi giá trị toàn cầu, thay vì chủ yếu làm gia công.

Về thể chế và đời sống xã hội, chúng ta phải vào nhóm ASEAN 4 về môi trường kinh doanh, minh bạch và đổi mới sáng tạo. Cải cách thủ tục hành chính phải thực chất, giảm thời gian và chi phí cho người dân và doanh nghiệp.

Người dân sẽ cảm nhận khát vọng vươn mình qua những thay đổi rất cụ thể: lương khá hơn, đường sá tốt hơn, thủ tục bớt rườm rà hơn, cơ hội học tập – việc làm rộng hơn cho con em mình.

Nhiu ý kiến cho rng nn kinh tế phát trin vn còn da nhiu vào vn đu tư và tài nguyên. Theo ông, đt phá nào cho tăng trưng bn vng và tng?

- Mô hình cũ “vốn – tài nguyên – lao động rẻ” đã giúp Việt Nam đi nhanh, nhưng không thể đưa đất nước đi xa. Đột phá mới phải đến từ nội lực có chất lượng.

Tôi muốn nhấn mạnh đến 5 động lực:

Thứ nhất, năng suất lao động. Doanh nghiệp phải chuyển từ gia công sang thiết kế, quản trị chuỗi cung ứng, công nghệ cao và dịch vụ giá trị. Năng suất mới là thước đo sức mạnh thật sự.

Thứ hai, công nghệ và chuyển đổi số. AI, dữ liệu lớn, tự động hóa phải đi vào sản xuất, logistics, y tế, giáo dục, nông nghiệp. Công nghệ là lực kéo giúp đi nhanh hơn và tiết kiệm hơn.

Thứ ba, doanh nghiệp tư nhân nội địa lớn mạnh. Phải tạo môi trường bình đẳng, không phân biệt doanh nghiệp tư nhân – Nhà nước – FDI. Khi doanh nhân Việt Nam được mở đường, họ sẽ trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng.

Thứ tư, nhân lực chất lượng cao. Giáo dục và đào tạo nghề phải chuyển từ “dạy những gì mình có” sang “dạy những gì thị trường cần”. Thiếu nhân lực tay nghề sẽ khiến mọi chiến lược trở nên vô nghĩa.

Thứ năm, hạ tầng chiến lược. Điện, giao thông, cảng biển, logistics phải được đầu tư đồng bộ. Không thể kỳ vọng công nghiệp hiện đại khi nguồn điện thiếu, hay hàng xuất khẩu ùn ứ.

Tự cường không phải đóng cửa tự lực, mà là mạnh bằng năng lực nội tại để hội nhập bình đẳng.

Các chính sách vĩ mô v đt đai, thuế, phí, đu tư công … đôi khi to rào cn cho ngưi dân và doanh nghip. Làm sao đ lng nghe và điu chnh chính sách kp thi t thc tin?

- Chính sách tốt là chính sách đi được vào đời sống. Để làm được điều đó, tôi nghĩ cần thay đổi cách thức xây dựng, thực thi và điều chỉnh chính sách như thiết lập cơ chế phản hồi thường xuyên và có trách nhiệm giữa Nhà nước và doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, nông dân, người lao động. Các góp ý phải có địa chỉ tiếp nhận, xử lý, phản hồi rõ ràng. Phải định lượng chi phí tuân thủ hành chính, mỗi thủ tục cần được tính bằng thời gian và chi phí cụ thể. Khi mọi chi phí trở nên minh bạch, cơ hội phát sinh chi phí không chính thức sẽ thu hẹp.

Thứ nữa là cần thử nghiệm chính sách trước khi ban hành rộng rãi. Điều này đặc biệt quan trọng trong các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo, tài chính số, đô thị thông minh. Và điều quan trọng là quản trị bằng dữ liệu thay vì cảm tính. Chính sách cần dựa trên khảo sát thị trường, phân tích tác động và phản hồi thực tế. Khi tiếng nói của người dân đến được nhà hoạch định chính sách, và được phản hồi nghiêm túc, môi trường kinh doanh sẽ thông thoáng hơn nhiều.

Đ phát trin theo chiu sâu mt cách thc cht, đâu là tr ct cn tái cu trúc sm nht trong nhim k ti?

- Điểm nút quan trọng nhất tôi nghĩ là cải cách thể chế và bộ máy Nhà nước. Không thể có nền kinh tế mạnh khi bộ máy tổ chức nặng nề, tầng nấc chồng chéo, trách nhiệm mờ nhạt. Do đó, tôi kỳ vọng nhiệm kỳ tới cần: Tinh gọn tổ chức và giảm trung gian, phân cấp mạnh nhưng đi đôi với kiểm soát quyền lực. Lấy hiệu quả công vụ làm thước đo đánh giá cán bộ, thay vì “đúng quy trình” nhưng trì trệ; Xây dựng nền hành chính phục vụ, trong đó Nhà nước tạo điều kiện thay vì xin cho; Minh bạch hóa toàn bộ quá trình lập quy hoạch, đầu tư công, đấu thầu, cấp phép.

Khi bộ máy vận hành thông suốt như mạch máu khỏe mạnh, mọi nguồn lực xã hội sẽ được giải phóng, và tăng trưởng theo chiều sâu mới có nền tảng vững vàng.

Lm phát, bt n giá c sinh hot luôn là mi quan tâm ln ca nhiu ngưi dân. Theo ông, đâu là nguyên nhân sâu xa t cu trúc nn kinh tế và chính sách?

- Lạm phát là vấn đề thu hút sự quan tâm của giới chuyên gia và người dân trước bối cảnh tăng trưởng cao, đòi hỏi đẩy lượng tiền lớn vào nền kinh tế. Hiện nay giá vàng, giá nhà ở, bất động đã và đang là hệ quả của lạm phát tăng cao và đòi hỏi có biện pháp quản lý tốt hơn.

Trong khi đó, các sản phẩm khác như nông nghiệp, thực phẩm cũng tăng giá nhưng không đáng kể, không đáng lo ngại bằng giá vàng, bất động sản, đất đai - những tài sản trú ẩn có nguy cơ bong bóng cao, gây rủi ro về dài hạn cho nền kinh tế.

Nguyên nhân lớn từ các tác động của biến động chính trị thế giới, thói quen tích trữ tài sản của người dân Việt Nam. Nguyên nhân chính vẫn là do các cơ chế, chính sách chưa đủ sức để giải quyết dứt điểm động cơ trú ẩn của dòng tiền vào bất động sản, vàng.

Lấy ví dụ về giá nhà ở, đất ở, với mức giá tăng nhanh như hiện nay, tác động rất xấu đến an sinh xã hội và phát triển hạ tầng (khu công nghiệp, công trình giao thông). Giá đất đai tăng nhanh khiến các nhà đầu tư phải tính toán lại chi phí đầu tư, mở rộng nhà xưởng, trong khi đó giá nhà ở tăng cao đồng nghĩa với người dân không thể tiếp cận được nhà ở.

Cấu trúc vốn đầu tư cho tăng trưởng cao cần đẩy mạnh vào các dự án có giá trị gia tăng cao, hệ số ICOR thấp và có tính lan toả, bền vững. Đầu tư để có tăng trưởng cần đầu tư vào những ngành có lợi thế của Việt Nam như nông nghiệp công nghệ cao, cơ sở hạ tầng giao thông và giáo dục con người.

Cơ chế la chn, đánh giá và s dng cán b - đc bit là ngưi đng đu trong lĩnh vc kinh tế - cn thay đi thế nào đ thu hút và phát huy đưc nhng tài năng thc s, dám nghĩ dám làm vì s phát trin đt nưc?

- Để Việt Nam tăng trưởng cao, bền vững, hiệu quả, thực chất, chúng ta cần gỡ hai vướng: Cải cách toàn diện thể chế và trọng dụng nhân tài. Vướng lớn nhất là thể chế hiện nay đang từng bước được tháo gỡ, nhưng vấn đề trọng dụng nhân tài là điểm yếu cần khắc phục nhanh chóng. Tại Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị về cải cách Doanh nghiệp Nhà nước vừa qua có nhắc đến việc cho DNNN được quyền thuê Tổng Giám đốc bên ngoài, đây là điểm mới, dần mở cửa cho doanh nghiệp Nhà nước. Tuy nhiên, để hiện thực hoá cần một cơ chế trọng dụng nhân tài ở mọi nơi, mọi vị trí.

Lấy ví dụ với DNNN, sở hữu tổng tài sản 5,6 triệu tỷ đồng, nhiều ngành lĩnh vực độc quyền, với tài sản lớn là đất vàng nhưng nhiều doanh nghiệp mới chỉ tròn vai, thậm chí èo uột trong cung cấp dịch vụ cho nền kinh tế, cho người dân chứ chưa nói đến “đặt bàn cân” với doanh nghiệp nước ngoài. Chúng ta chưa có doanh nghiệp nào lớn vượt trội, bút phá toàn diện so với các nước như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore.

Chúng ta hay lo ngại DNNN phát triển lệch quỹ đạo cơ chế cán bộ Nhà nước đứng vai trò điều hành doanh nghiệp làm kinh tế, đứng vai trò quyết định trong Hội đồng Quản trị ở vị trí Chủ tịch HĐTV, Phó Chủ tịch hay Tổng Giám đốc. Thực tế có doanh nghiệp được hưởng cơ chế độc quyền, bao tiêu thị trường thì thành công, nhưng không ít lại thất bại, đổ vỡ, phá sản.

Chúng ta hay biến một nhà quản lý nhà nước chưa giỏi thành một nhà quản trị tồi. Đặt tố chất nhà quản lý hành chính, nhà chính trị vào cơ chế quản lý doanh nghiệp, quản lý thị trường trong khi tố chất nhà quản lý doanh nghiệp đòi hỏi khác với tố chất nhà quản lý, người làm chính trị.

Muốn có thể chế tốt phải trọng dụng nhân tài. Quản lý doanh nghiệp hiệu quả khác với quản lý Nhà nước hiệu quả. Một bên luôn đòi hỏi đổi mới, sáng tạo để có kết quả tốt, một bên là đòi hỏi quản lý tuân thủ, lằn ranh. Chúng ta có nhiều bài học về doanh nghiệp thất bại, tổ chức thất bại do mô hình quản lý người Nhà nước sang quản lý, điều hành các tổ chức kinh tế. Chúng ta có thể đạt được các mục tiêu đấy phải có chiến lược trọng dụng nhân tài, cả cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước và người thực thi chính sách.

Thưa ông, áp lc chi phí sinh hot đè nng lên tng lp trung lưu đô th và ngưi lao đng nhp cư. Ngoài tăng lương ti thiu, cn có nhng công c chính sách nào khác đ thc s gim gánh nng này?

- Tăng lương tối thiểu là cần thiết, nhưng nếu chỉ dựa vào lương thì ta sẽ luôn chạy sau “cơn sóng” giá cả, nhất là ở các đô thị lớn. Muốn giảm gánh nặng chi phí sinh hoạt một cách thực chất cho tầng lớp trung lưu đô thị và người lao động nhập cư, theo tôi, Nhà nước cần chuyển mạnh sang tư duy “giảm chi phí để sống” bằng các gói chính sách đa tầng.

Trước hết là chính sách nhà ở: phải coi nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân, ký túc xá cho lao động nhập cư là một cấu phần của an sinh, không phải là dự án thương mại có tính “xin – cho”. Cần tạo quỹ đất sạch, cơ chế ưu đãi tín dụng dài hạn, thậm chí hỗ trợ lãi suất cho nhóm thu nhập trung bình thấp.

Thứ hai là dịch vụ công thiết yếu: y tế, giáo dục, giao thông công cộng cần được mở rộng chất lượng và khả năng tiếp cận. Khi người dân không phải “tự lo” mọi thứ, áp lực chi tiêu tự nhiên giảm.

Thứ ba là chính sách thuế và trợ cấp mục tiêu: có thể giảm thuế thu nhập cá nhân cho nhóm trung lưu, đồng thời thiết kế trợ cấp theo điều kiện cho lao động nhập cư (nhà trẻ, học phí, bảo hiểm y tế).

Và cuối cùng, phải kiểm soát “lạm phát chi phí” bằng cơ chế giám sát giá ở các nhóm hàng thiết yếu, tăng cung, chống đầu cơ và minh bạch thị trường. Giảm gánh nặng không chỉ là tăng tiền trong túi, mà là giảm những khoản khiến người dân “mệt mỏi vì sống”.

Th tc hành chính và minh bch thông tin vn là rào cn ln. Cn mt cơ chế giám sát và phn hi đc lp nào đ đm bo các quyết đnh chính sách thc s vì li ích ca ngưi dân?

- Thủ tục hành chính và minh bạch thông tin không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà là thước đo của năng lực quản trị quốc gia và lòng tin xã hội. Muốn đảm bảo các quyết định chính sách thực sự vì lợi ích người dân, theo tôi cần một cơ chế giám sát – phản hồi độc lập, đa kênh và có trách nhiệm giải trình bắt buộc.

Trước hết, phải thiết lập hệ thống “giám sát xã hội có định chế”: Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp phải được trao quyền tham gia phản biện chính sách từ đầu, không phải chỉ góp ý khi mọi thứ đã xong.

Thứ hai là cơ chế “phản hồi bắt buộc” của cơ quan nhà nước: mỗi kiến nghị của người dân/doanh nghiệp cần có thời hạn trả lời rõ ràng, công khai tiến độ xử lý, và người đứng đầu chịu trách nhiệm nếu chậm hoặc né tránh.

Thứ ba, cần một nền tảng số minh bạch hóa chính sách theo vòng đời: dự thảo – lấy ý kiến – tiếp thu – ban hành – đánh giá tác động. Tất cả phải mở dữ liệu để báo chí, chuyên gia, người dân có thể kiểm chứng.

Và rất quan trọng, Quốc hội phải làm mạnh hơn vai trò giám sát tối cao thông qua chất vấn, giám sát chuyên đề, và các báo cáo độc lập về hiệu quả chính sách. Khi quyền lực được đặt trong ánh sáng minh bạch và đối thoại thực chất, “rào cản hành chính” sẽ dần bị thay bằng tinh thần phục vụ.

Khong cách giàu nghèo và s phân hóa xã hi vn là mi lo. Làm thế nào đ tăng trưng kinh tế đi đôi vi tiến b và công bng xã hi mt cách thc cht?

- Khoảng cách giàu nghèo và phân hóa xã hội là thách thức lớn không chỉ về kinh tế mà còn về ổn định xã hội và “chất lượng phát triển”. Nếu tăng trưởng mà một bộ phận bị bỏ lại phía sau, xã hội sẽ tích tụ những bất mãn âm thầm, và những thành quả phát triển sẽ thiếu bền vững. Vì vậy, theo tôi, để tăng trưởng đi đôi với công bằng một cách thực chất, điều cốt lõi là chuyển từ tư duy “chia lại sau tăng trưởng” sang “thiết kế công bằng ngay trong mô hình tăng trưởng”.

Thứ nhất, phải đảm bảo cơ hội tiếp cận nguồn lực: đất đai, giáo dục, y tế, tín dụng, chuyển đổi số… không được trở thành đặc quyền của nhóm mạnh hơn.

Thứ hai, phải xây dựng hệ thống thuế công bằng và hiệu quả: đánh thuế đúng vào các nguồn thu nhập lớn, đầu cơ tài sản, lợi ích độc quyền; đồng thời giảm gánh nặng cho nhóm lao động và doanh nghiệp nhỏ.

Thứ ba, phải tăng đầu tư cho an sinh xã hội theo hướng “phòng ngừa rủi ro”, nhất là với lao động phi chính thức: bảo hiểm xã hội linh hoạt, hỗ trợ đào tạo lại kỹ năng, tạo lưới an toàn trước cú sốc thất nghiệp.

Và thứ tư, phát triển kinh tế vùng và hạ tầng kết nối để giảm chênh lệch địa lý – vì bất bình đẳng không chỉ nằm ở túi tiền, mà còn nằm ở nơi sinh ra và cơ hội được tiếp cận. Nói ngắn gọn, tăng trưởng bền vững phải có “gương mặt con người”, và công bằng xã hội không phải mục tiêu phụ, mà là điều kiện để phát triển lâu dài.

T góc nhìn ca doanh nghip, nhng đim nghn th chế nào đang kìm hãm s bt phá ca khu vc tư nhân - vn đưc k vng là đng lc chính ca nn kinh tế? Ông k vng gì vào nhng ci cách c th t Đi hi ln này?

- Theo tôi, vấn đề lớn nhất, cũng là cốt lõi của mọi điểm nghẽn hiện nay, là chúng ta vẫn chưa thực sự giải phóng được lực lượng sản xuất. Biểu hiện rõ nhất của điều này là việc doanh nghiệp nhà nước trực tiếp tham gia cạnh tranh với doanh nghiệp tư nhân, từ đó làm méo mó và triệt tiêu thị trường.

Hiện tượng này không phải cá biệt mà diễn ra phổ biến ở hầu hết các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, từ khoa học công nghệ, hàng không, du lịch cho tới hạ tầng số... Khi doanh nghiệp nhà nước vừa nắm giữ tài nguyên, vừa có lợi thế về cơ chế, lại trực tiếp cạnh tranh trên thị trường, thì khu vực tư nhân không thể phát triển, động lực đổi mới sáng tạo của xã hội bị kìm hãm.

Tôi đã nhiều lần phân tích rằng, nếu không tháo gỡ được điểm nghẽn này thì Việt Nam không thể tăng trưởng hai con số một cách bền vững trong nhiều thập kỷ. Ngược lại, chỉ cần giải quyết đúng, tăng trưởng hai con số là điều hoàn toàn có thể.

Chuyn đi s quc gia đang đưc đy mnh, nhưng nguy cơ v khong cách s, an ninh mng và ph thuc công nghc ngoài là có tht. Làm thế nào đ chuyn đi s tr thành công c đc lc cho phát trin bn vng và t ch?

- Trên thực tế, trong các lĩnh vực cốt lõi của khoa học công nghệ, đặc biệt là an ninh mạng, người Việt Nam đã làm chủ phần lớn các công nghệ nền tảng. Riêng trong lĩnh vực an ninh mạng, khoảng 95% công nghệ lõi là do Việt Nam làm chủ.

Việt Nam không thiếu công nghệ lõi, cũng không thiếu doanh nghiệp có năng lực. Vấn đề đặt ra là: vì sao chúng ta vẫn chưa hình thành được các tập đoàn công nghệ lớn, chưa bứt phá tương xứng với tiềm năng, và vẫn xuất hiện những lo ngại như vậy? Theo tôi, nguyên nhân nằm ở chỗ lực lượng sản xuất chưa được giải phóng đầy đủ, đặc biệt là sự phân vai chưa đúng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Chỉ cần tháo gỡ được điểm nghẽn đó, Việt Nam sẽ bùng nổ và phát triển rất nhanh.

Ông k vng thếo v nhng quyết sách ti Đi hi ln này s đưc trin khai quyết lit, đng b và có s giám sát cht ch, nhm hin thc hóa khát vng phát trin ca quc gia?

CEO Nguyn T Qung: Muốn có đột phá, phải thay đổi phương thức sản xuất. Lịch sử đã chứng minh điều này rất rõ. Khoán 10 năm 1988 đã “cởi trói” cho nông nghiệp, và sau đó, Việt Nam từ chỗ có khoảng 2 triệu người thiếu đói đã trở thành một trong những nước có lượng gạo xuất khẩu lớn trên thế giới. Trong khi đó, suốt gần 40 năm trước đó, chúng ta đã nỗ lực rất nhiều nhưng không làm được.

Lần này cũng vậy. Chúng ta đang rất nỗ lực, nhưng nếu không tiếp tục điều chỉnh quan hệ sản xuất thì hiệu quả sẽ vẫn rất hạn chế. Khoán 10 trước đây, theo tôi, mới chỉ điều chỉnh trong lĩnh vực nông nghiệp, còn các lĩnh vực khác của nền kinh tế thì chưa. Lần này, nếu chúng ta điều chỉnh một cách toàn diện hơn, thì đột phá hoàn toàn có thể lặp lại.

Cụ thể, phải để thị trường thực sự là thị trường tự do, để người dân và doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng. Doanh nghiệp nhà nước chỉ nên tập trung vào các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội. Nhà nước đóng vai trò điều tiết bằng thuế và các chính sách vĩ mô, chứ không trực tiếp tham gia cạnh tranh với doanh nghiệp tư nhân và người dân. Chỉ cần làm đúng như vậy, chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra cú hích tương tự như Khoán 10 trước đây, cũng chỉ bằng những quyết định thể chế mang tính then chốt.

GS,TSKH Võ Đi Lưc: Việt Nam đặt ra nhiều mục tiêu, khát vọng lớn cho kỷ nguyên vươn mình năm 2030 và 2045, với tăng trưởng hai con số, phấn đấu thu nhập trung bình cao, là nước phát triển. Để có được thành quả này, theo tôi không phải dễ dàng thực hiện, nhất là trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức ngày một lớn từ bên ngoài, lẫn nội tại nền kinh tế.

Đại hội Đảng toàn quốc lần này là bước kiện toàn đội ngũ lãnh đạo cho nhiệm kỳ tới, thực thi những kế hoạch, phương châm hành động cho một trong những nhiệm vụ khó khăn, nặng nề mà 40 năm qua chúng ta còn dang dở: Đưa đất nước phát triển trở nên giàu mạnh, hùng cường.

Để làm được, đòi hỏi chúng ta phải có những con người giỏi, lãnh đạo tốt và đặc biệt có mục tiêu, lý tưởng và có hoài bão đổi mới, sáng tạo. Về khách quan, Việt Nam hiện là đối tác chiến lược toàn diện với hầu hết các nước lớn như Nga, Mỹ, Trung, Nhật… Chúng ta cũng là bạn hàng của nhiều đối tác thương mại hàng đầu thế giới và vai trò của Việt Nam ngày càng quan trọng trong mắt xích phát triển và chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong khi đó, trước thềm Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ XIV, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều chính sách đột phá, xoay chuyển đại cục phát triển đất nước như Nghị quyết về sắp xếp lại đơn vị hành chính, tinh gọn bộ máy, phát triển khoa học công nghệ, kinh tế tư nhân, kinh tế Nhà nước và chủ động xây dựng, phát triển các đại dự án, các trung tâm động lực mới cho tăng trưởng.

Rõ ràng vận hội mới đang mở ra cho đất nước, ý Đảng và lòng dân đã được thể hiện trong tư duy, khát vọng đi lên.

Chúng ta có nhiều không gian để tạo dựng tăng trưởng hai con số và phát triển lớn mạnh, đầu tiên là cơ sở hạ tầng, đường bộ, đường sắt, hạ tầng công nghiệp, cảng biển, kinh tế biển… đang được đầu tư ngày càng lớn, dần hình thành các doanh nghiệp, tập đoàn lớn trong nước về hạ tầng. Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng lớn mạnh, sẵn sàng đảm đương các dự án lớn, những sản phẩm cốt lõi.

TS.Tô Văn Trưng: Điều người dân chờ đợi nhất không phải là lời hứa, mà là hành động và trách nhiệm. Một là, cải cách thể chế mạnh mẽ và thực chất, để loại bỏ điểm nghẽn đã kéo dài nhiều năm và tạo không gian phát triển cho doanh nghiệp, nông dân, người lao động. Hai là, tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, giảm lệ thuộc vào khai thác tài nguyên và vốn ngoại, tăng tỷ trọng đổi mới sáng tạo và công nghệ. Ba là, phát triển xanh và bảo đảm sinh kế bền vững, để tăng trưởng đi đôi với an toàn môi trường và an ninh đời sống của người dân. Quan trọng nhất là phải có cơ chế giám sát, báo cáo tiến độ và trách nhiệm giải trình minh bạch.

Chúng ta không thiếu trí tuệ, không thiếu nguồn lực, vấn đề là dám làm, dám đổi mới và dám chịu trách nhiệm trước nhân dân.

Tôi kỳ vọng, quan trọng hơn cả ba đột phá đó, Đại hội lần này sẽ đặt kỷ luật thực thi và trách nhiệm giải trình lên vị trí trung tâm. Chúng ta đã có rất nhiều chủ trương đúng, chiến lược hay, nhưng khi đi vào thực tế lại bị chậm trễ, phân tán hoặc “mềm hóa” bởi lợi ích cục bộ, tâm lý sợ trách nhiệm hay sự chậm đổi mới của bộ máy.

Đại hội XIV cần phát đi một thông điệp mạnh mẽ: tư duy mới phải song hành với cách làm mới. Từ Chính phủ, bộ ngành đến từng địa phương, mọi cấp phải lấy kết quả cuối cùng phục vụ người dân và doanh nghiệp làm thước đo. Những ai làm tốt phải được trao quyền và bảo vệ; những ai trì trệ, gây cản trở hoặc lạm quyền phải bị xử lý minh bạch.

Khát vọng phát triển quốc gia không thể chỉ dựa vào lời kêu gọi, mà phải được chuyển hóa thành kỷ cương hành động, tinh thần dấn thân và cơ chế để cái mới thắng được cái cũ. Khi đó, mọi sáng kiến cải cách sẽ có đường đi, mọi nguồn lực trong dân sẽ được khai mở và niềm tin xã hội sẽ trở thành sức bật mạnh nhất.

Nếu Đại hội XIV thực sự hóa giải được “điểm nghẽn thực thi” và nuôi dưỡng một môi trường khuyến khích cái mới, tinh thần “dám nghĩ – dám làm – dám chịu trách nhiệm”, tôi tin rằng những mục tiêu lớn lao về thịnh vượng, công bằng và hạnh phúc sẽ không còn là tầm nhìn xa, mà là thành quả hữu hình trong đời sống từng người dân Việt Nam.

Xin cm ơn các chuyên gia, học giả đã chia s quan đim!

Nội dung: N.Quỳnh - N.Thịnh - N.Định - N.Tuyền

Mỹ thuật: Hữu Anh