Chủ đề nóng

Đội quân 'chiến thần' đỉnh cao chỉ với 7 trinh sát buộc 1.300 quân lính và 200.000 người phải đầu hàng

Thứ tư, ngày 12/05/2021 06:27 AM (GMT+7)
Aa Aa+
Belgrade, Nam Tư có 200.000 dân và 1.300 quân lính trong Thế chiến thứ 2 lại đầu hàng vỏn vẹn 7 trinh sát Đức.
Bình luận 0

Trong lịch sử chiến tranh nhân loại, thường có một số trận chiến kinh điển "ít thắng nhiều", được các nhà chiến lược quân sự của các triều đại trước đây coi như huyền thoại. Ví dụ: các trận Cự Lộc Trận Xích Bích và Trận Phì Thủy ở Trung Quốc, Trận Salamis ở Hy Lạp, Trận Issus ở Macedonia và Trận Crécy ở Anh và Pháp ở phương Tây.

Trong những ví dụ này, sức mạnh quân sự của các bên đối địch thường chênh lệch nhau vài lần, thậm chí hàng chục, hàng trăm lần, những bên nào không có lợi thế về sức mạnh quân sự chủ yếu đạt được thế "Bốn lạng đẩy ngàn cân" đều nhờ trình độ quân sự xuất sắc và chiến thuật hợp lý.

Tuy nhiên, những trận đánh kinh điển trong lịch sử quân sự này rất khó để tái hiện trong các cuộc chiến tranh hiện đại. Bởi vì với sự tiến bộ của vũ khí và chiến thuật, những phương tiện chiến tranh cổ xưa với những "kế sách thần kỳ" hay "binh mã dũng mãnh" không thể khiến các "cường quốc quân sự" ngày nay có thể rút lui được. Các cuộc chiến trong thời đại vũ khí tầm nhiệt, miễn là không có sự chênh lệch thế hệ giữa các loại vũ khí của cả hai bên, sẽ ngày càng khảo nghiệm sức mạnh toàn diện của đất nước và dần trở thành một cuộc chiến tiêu hao.

Hai cuộc chiến tranh thế giới hiện đại đều kéo dài, dân số các nước tham chiến là vài trăm triệu người, binh lính bị chết và bị thương hàng chục triệu người. Đặc biệt trong Chiến tranh thế giới thứ 2 đã diễn ra vô số trận đánh sử dụng lực lượng quân đội đông đảo, nếu không có thế mạnh của hàng trăm nghìn quân thì sẽ khó đạt được mục tiêu chiến thuật.

Chiến tranh thế giới thứ hai đã diễn ra vô số trận đánh sử dụng lực lượng quân đội đông đảo, nếu không có thế mạnh của hàng trăm nghìn quân thì sẽ khó đạt được mục tiêu chiến thuật.

Chiến tranh thế giới thứ hai đã diễn ra vô số trận đánh sử dụng lực lượng quân đội đông đảo, nếu không có thế mạnh của hàng trăm nghìn quân thì sẽ khó đạt được mục tiêu chiến thuật.

Tuy nhiên, khi Đức xâm lược Nam Tư vào những ngày đầu của Thế chiến II, một nhóm tinh nhuệ của Phát xít Đức đã chiếm đóng Belgrade, thủ đô của Vương quốc Nam Tư, với một nhóm nhỏ gồm 7 người, điều này đã trở thành một trong những câu chuyện huyền thoại nhất trong lịch sử Chiến tranh thế giới thứ 2. Belgrade có 200.000 dân và 1.300 quân lính trong Thế chiến thứ 2 lại đầu hàng vỏn vẹn 7 binh sĩ Đức. Nghe có vẻ hơi khó tin. Câu chuyện đằng sau trận chiến này là gì?

Sự lựa chọn của Vương quốc Nam Tư

Cuộc xâm lược Nam Tư của Đức thực sự là tình cờ, bởi vì vào năm 1940 và 1941, hầu hết các vùng Balkan đã rơi vào tay Đức Quốc xã. Vì những bài học rút ra từ sự sụp đổ của Ba Lan năm 1939, những quốc gia nhỏ bé này đã phải chọn phe giữa Liên Xô và Đức. Nhưng so với Liên Xô với một hệ thống xã hội khác, Đức rõ ràng là dễ được các nước này chấp nhận hơn.

Vì vậy, ba nước Đông Âu là Romania, Hungary và Bulgaria bị Đức gộp lại thành một, ký kết "Hiệp ước Balkan của liên minh ba bên", và chính thức gia nhập vào cỗ xe của Đức Quốc xã. Kể từ đó, Đức tin rằng Balkan đã là sân sau của chính mình, và chỉ có Hy Lạp và Nam Tư là không thể hiện lòng trung thành của họ.

Ban đầu, Đức có thể dễ dàng cho phép Hy Lạp và Nam Tư gia nhập Balkan, nhưng Ý đã không giúp theo chiều ngược lại. Mussolini cử quân đội Ý xâm lược Hy Lạp, nhưng không nói qua một lời với Đức Quốc xã trước. Hy Lạp đã chống trả lại sự xâm lược và liên minh với Anh để đánh bại Ý, nhưng Đức chỉ có thể hoãn kế hoạch xâm lược Liên Xô và gửi quân đến giúp Ý đánh bại Hy Lạp.

Vương quốc Nam Tư cũng theo chân Đức. Lãnh đạo của Ba Tư là thân vương Paul, quyết định gia nhập Hiệp ước Balkan vào ngày 25 tháng 3 năm 1941, đồng thời trao cảng Salonika ở Địa Trung Hải cho Đức để đổi lấy vị thế trung lập của quốc gia này. Tuy nhiên, một nhóm sĩ quan quân đội Serbia ở Nam Tư đã tổ chức một cuộc đảo chính theo kế hoạch của Anh và Mỹ, lật đổ Nhiếp chính Paul cầm quyền vào ngày 27 tháng 3 và tuyên bố sẽ không công nhận Hiệp ước Balkan.

Đức rất tức giận trước sự nổi loạn của Nam Tư và quyết định 'dạy dỗ' luôn Nam Tư khi đưa quân sang Hy Lạp. Vì vậy ngày 6 tháng 4 năm 1941, Đức bắt đầu ném bom Nam Tư.

Ngày 6 tháng 4 năm 1941, Đức bắt đầu ném bom Nam Tư.

Ngày 6 tháng 4 năm 1941, Đức bắt đầu ném bom Nam Tư.

7 vị khách không mời

Vương quốc Nam Tư tuy là một quốc gia nhỏ bé nhưng quân số lại nhiều, năm 1941 có tới 1,2 triệu quân, tổng cộng có 3 quân đội, hơn 30 sư đoàn và 30 lữ đoàn độc lập. Tuy nhiên, quân Nam Tư tuy số lượng đông nhưng trang bị lại thiếu thốn, kể từ khi thành lập vào cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất, đội quân này chưa có sự thay đổi vũ khí quy mô lớn, là một đội quân kiểu cũ do bộ binh thống trị từ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Quân đội Hoàng gia Nam Tư chỉ có hai tiểu đoàn xe tăng và 100 xe tăng Renault FT17 của Pháp. Hơn nữa, Nam Tư, là một quốc gia đa sắc tộc, đã có sự ly khai nội bộ rất nghiêm trọng, hai trung đoàn thứ tư và thứ bảy của Croatia hóa ra khi Đức xâm lược và thành lập chính phủ Croatia để "đón đầu" cuộc xâm lược của Đức, điều này đã khiến Nam Tư quân đội hầu như không thể tổ chức kháng chiến hiệu quả.

Cùng lúc đó, quân đội Đức vẫn đang tham gia trận đánh chớp nhoáng ở Nam Tư, máy bay ném bom và sự điều động nhanh chóng của lực lượng thiết giáp đã dẫn quân đến thủ đô Belgrade của Nam Tư theo ba tuyến đường. Quân đội Đức sử dụng phương pháp ném bom bão hòa để làm suy yếu tinh thần chiến đấu của quân Nam Tư. Trong hai tuần, Luftwaffe đã ném bom một phần ba các tòa nhà ở Belgrade, giết chết và bị thương hàng chục nghìn cư dân. Sau đó quân đội Đức tràn đến Belgrade với 5 sư đoàn, dự định đánh chiếm thành phố lịch sử được mệnh danh là "Chìa khóa của Balkans" này trước ngày 20 tháng 4.

Tuy nhiên, một thuyền trưởng bình thường củaSchutzstaffel- Đảng vệ quân (lực lượng an ninh đặc biệt bảo vệ cho Hít-le và các yếu nhân trong Đảng quốc xã - Phát-xít Đức ) tên là Klingenberger đã diễn một cảnh "tay không bắt sói trắng", khiến chính nước Đức cũng phải kinh ngạc.

Klingenberger thuộc Sư đoàn Đế quốc Đảng vệ quân, một đơn vị tinh nhuệ của Đức Quốc xã, được hợp nhất vào Tập đoàn quân cơ giới 41 trong cuộc tấn công vào Nam Tư. Klingenberger khi đó là đại đội trưởng của Đại đội Trinh sát số 2 thuộc Sư đoàn Hoàng gia Anh luôn được biết đến với quyết định táo bạo, cấp tiến và là một cái gai nổi tiếng của kẻ thù. Khi đó, đại đội trinh sát của Đức không chỉ thực hiện nhiệm vụ trinh sát mà tương tự như các lực lượng đặc biệt hiện đại, tham gia vào các cuộc hành quân sắc bén, tấn công các mục tiêu quan trọng của địa phương hoặc chiếm giữ các huyết mạch giao thông. Nhiệm vụ của Klingenberg là thu dọn các chướng ngại vật trước mặt quân đội, chiếm lấy đường dây liên lạc, để các đoàn quân lớn tiến lên thuận lợi.

Đội quân 'chiến thần' đỉnh cao chỉ với 7 trinh sát buộc 1.300 quân lính và 200.000 người phải đầu hàng  - Ảnh 3.

7 trinh sát Đức đã buộc 1.300 quân lính và 200.000 người dân Nam Tư phải đầu hàng.

Vào thời điểm đó, quân đội Đức đang hành quân bằng thiết giáp, và nó di chuyển chậm trong vùng núi của Nam Tư. Điều kiện đường xá ở các nước Đông Âu rất kém, xe tăng bị kẹt trong bùn và rất khó thoát ra ngoài. Vì thế, Klingenberg và bảy người lính trinh sát của ông đã bỏ xa quân đoàn đi ngày càng xa, và vào ngày 11 tháng 4, họ đến sông Danube và băng qua sông trên một chiếc thuyền nhỏ.

Lúc này, bộ đàm do đội trinh sát này mang theo có vấn đề, rất khó liên lạc với quân đoàn đông đảo phía sau. Nhưng Klingenberg, một người liều lĩnh đánh cược, cảm thấy rất ổn vào thời điểm này. Ông ta không muốn ở trong tình trạng chờ đợi, nên đã dẫn dắt đội trinh sát đi tiếp và nhất định phải đạt được điều gì đó.

Họ bắt một toán lính miền Nam ở bên kia sông, lấy xe cộ và quần áo của mặc lên để ngụy trang, rồi phóng xe thẳng vào địa phận của quân đội Nam Tư. Quân đội Nam Tư canh giữ nơi biên cương có kỷ luật kém, tướng quân Luca vô tích sự nên không nhận ra sự ngụy trang của lính Đức. Sau đó, quân Đức đã đánh lừa thành công trạm kiểm soát của quân đội Nam Tư, Đại úy Klingenberg và người của ông trực tiếp tiến vào thủ đô Belgrade.


Belgrade "đánh tan" nỗi sợ hãi

Lúc này, Belgrade đã bị pháo kích từ lâu, hầu hết các cơ quan nhà nước đã rút hết, ngay cả quân đội do thiếu vũ khí phòng không cũng rút khỏi thành phố, chỉ còn lại một đồn trú hơn 1.000 người. Vào lúc 5 giờ chiều ngày 12 tháng 4 năm 1941, Đại úy Klingenbergen đã hai tay không xuống lãnh sự quán Đức Quốc xã và giương cao lá cờ Đức Quốc xã trước đại sứ quán, điều này khiến cư dân thành phố bị bàng hoàng như bị ném một quả bom. Lúc đó, tin tức tình báo cho thấy quân Đức còn cách xa, quân Đức đột ngột xuất hiện trong thành phố, nhiều người đoán rằng đó là lính dù Đức đang tấn công thành phố.

Kết quả là, thị trưởng Belgrade rất lo lắng, thành phố bị thương vong nặng nề sau vụ đánh bom, và ông cảm thấy không có đủ sức để triển khai quân phòng thủ lại quân Đức. Vì vậy, ông mặc lễ phục và đến đại sứ quán Đức để gặp quân Đức, Klingenbergen bình tĩnh bắt đầu đàm phán với thị trưởng Belgrade.

Klingenberg biết rằng sẽ còn ít nhất một ngày nữa quân đội Đức mới có thể tới đây, nhưng chính ông ta đã bị mắc kẹt mà chỉ có một con đường, nếu quay đầu lại có thể gánh lấy cái chết. Vì vậy, ông ta đã nói dối một cách ngạo mạn. Ông ta nói dối rằng ba sư đoàn Đức đã bao vây thành phố, pháo hạng nặng bao trùm toàn thành phố, không quân sẽ ném bom ngay lập tức. Klingenberg rất tự tin, ông ta nói rằng trước Belgrade chỉ có hai con đường là hủy diệt hoặc đầu hàng.

Klingenberger và nhóm hạ sỹ dưới quyền tuy trong lòng biết rõ việc đó là vô căn cứ, nhưng lời nói của họ đã tiêu diệt Thị trưởng Belgrade và các quan chức khác. Cuộc ném bom của quân Đức khiến những quan chức này kiệt sức, và họ quyết định đầu hàng quân đội Đức mà không cần thảo luận nhiều. Ngay sau đó, 1.300 binh sĩ Nam Tư đã đặt vũ khí xuống, Klingenberg cử họ đến quảng trường và yêu cầu một lính Đáng vệ quân lắp súng máy để khống chế những người lính này. Các quan chức và cư dân khác im lặng chờ quân Đức tiến vào thành phố.

Mãi đến nửa đêm ngày 13 tháng 4, một tiểu đoàn tiên phong của Đức mới đến Belgrade, lúc này Belgrade đã nằm trong tầm kiểm soát của 7 trinh sát Đức, chính quân Đức cũng không thể tin được điều này. Cho đến lúc đó, các quan chức ở Belgrade mới biết rằng họ bị 7 người lính buộc phải đầu hàng, Klingenberg trở thành "anh hùng trận mạc", còn thị trưởng Belgrade thì xấu hổ và tự sát vào ngày hôm đó.

Đội quân 'chiến thần' đỉnh cao chỉ với 7 trinh sát buộc 1.300 quân lính và 200.000 người phải đầu hàng  - Ảnh 5.

Klingenberger, chỉ huy đội quân trinh sát gồm 7 người.

Phép màu của Klingenberger lúc đó đã lan truyền về cho nước Đức, ngay sau khi trở về nước ông ta đã được nguyên thủ quốc gia tiếp đón. Sau này, ông ta vẫn đóng quân tại Đức. Ông hy sinh trong một cuộc không kích vào cuối Chiến tranh Châu Âu 1945.

Thúy phương (Shihaifanzhou)
Mời các bạn đồng hành cùng báo Dân Việt trên mạng xã hội Facebook để nhanh chóng cập nhật những tin tức mới và chính xác nhất.
Tin cùng chuyên mục
Xem theo ngày Xem