Chủ đề nóng
Vụ doanh nghiệp “ma” ở đặc khu Vân Đồn Quảng Ninh: Luật sư nêu trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế tại địa phương
- Bí ẩn đằng sau những doanh nghiệp “ma” ở đặc khu Vân Đồn: Buôn bán hóa đơn hàng tỷ đồng, lỗ hổng quản lý thuế? (Bài 3)
- Bí ẩn đằng sau những doanh nghiệp “ma” ở đặc khu Vân Đồn: Theo dấu những hóa đơn VAT dấu hiệu lập "khống" (Bài 2)
- Vén màn bí ẩn đằng sau những doanh nghiệp “ma” ở Đặc khu Vân Đồn (Quảng Ninh)
Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế địa phương
Trong các bài viết trước của loạt phóng sự “Bí ẩn đằng sau những doanh nghiệp “ma” ở đặc khu Vân Đồn”, chúng tôi đã phản ánh tình trạng những "doanh nghiệp ma" ở đặc khu Vân Đồn được thành lập, xuất bán lòng vòng hàng trăm hóa đơn tiền tỷ kéo dài hàng năm trời. Phải đến khi các doanh nghiệp này biến mất Thuế cơ sở 3 tỉnh Quảng Ninh, đơn vị quản lý trực tiếp mới kiểm tra và ra thông báo “Người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký”.
Câu hỏi đặt ra, có hay không việc buông lỏng quản lý thuế, quản lý hóa đơn VAT đầu vào - đầu ra của những doanh nghiệm tiềm ẩn rủi ro tại địa bàn?
Trao đổi với Dân Việt, Luật sư Vũ Ngọc Huy , Công ty Luật Đông Đô – Hà Nội cho biết, quy định tại khoản 6, 7 Điều 2 Quyết định 110/QĐ-BTC ngày 14/01/2019 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chi cục thuế quận, huyện, thị xã, thành phố và chi cục thuế khu vực trực thuộc cục thuế tỉnh, thành phố. Khoản 9 Điều 2 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của thuế cơ sở thuộc thuế tỉnh, thành phố kèm theo Quyết định 1377/QĐ-CT ngày 30/6/2025 của Cục trưởng Cục thuế.
Theo đó, Chi cục thuế (trước đây), nay là Thuế Cơ sở có trách nhiệm quản lý thông tin người nộp thuế, xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin về người nộp thuế trên địa bàn và thực hiện quản lý áp dụng rủi ro trong hoạt động quản lý thuế.

Các thông tin trong cơ quan thuế phục vụ quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ về thuế được quy định cụ thể trong Quy trình thu thập, khai thác thông tin phục vụ quản lý rủi ro thực hiện theo Điều 5 Quy trình áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế kèm theo Quyết định số 18/QĐ-TCT ngày 12/01/2023 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế.
Từ những quy định ở trên cho thấy, đơn vị Thuế cơ sở phải thực hiện trách nhiệm thu thập, quản lý thông tin, xây dựng dữ liệu thông tin người nộp thuế, trong đó có những thông tin là tiêu chí để phân loại mức độ rủi ro người nộp thuế (quy định tại Phụ lục II Thông tư 31/2021/TT-BTC)
Nếu không thực hiện, có thể dẫn đến tình trạng không kịp thời phát hiện ra những điểm bất thường của các doanh nghiệp “ma” để kịp thời kiểm tra, xử lý vi phạm.
Cụ thể: Thời gian thành lập mới, hoạt động ít nhưng lại có doanh thu lớn bất thường; Doanh nghiệp xuất hóa đơn không phù hợp với ngành nghề sản xuất kinh doanh đã đăng ký; Có doanh thu lớn nhưng không có người lao động; Quy mô của doanh nghiệp, tài sản của doanh nghiệp trên Báo cáo tài chính có tương ứng với doanh thu được ra; Giao dịch chuyển khoản lớn qua Ngân hàng chỉ phát sinh với doanh nghiệp xuất hóa đơn (Hóa đơn hàng hóa DV mua vào) và/ hoặc doanh nghiệp nhận hóa đơn (Hóa đơn hàng hóa DV bán ra); Hóa đơn chỉ phát sinh với 01 doanh nghiệp bán và/ hoặc mua, trong khi đó, thuế là cơ quan cấp mã cho hóa đơn; quản lý hóa đơn; Các doanh nghiệp không nộp hồ sơ khai thuế nhưng không phát hiện và có biện pháp lý.
Ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đầu tư kinh doanh địa phương
Cũng theo luật sư Vũ Ngọc Huy , việc mua bán hóa đơn tạo ra lợi thế cạnh tranh không công bằng, bình đẳng cho các doanh nghiệp gian lận và doanh nghiệp kinh doanh chân chính: Doanh nghiệp mua hóa đơn, làm giảm chi phí thuế, giảm giá thành so với các doanh nghiệp không mua hóa đơn; Tăng thêm nguồn vốn bất hợp pháp từ nguồn tiền thuế trốn đóng; Góp phần hợp thức hóa hàng hóa trôi nổi, không rõ nguồn gốc, làm tăng rủi ro cho người tiêu dùng và doanh nghiệp chân chính.
Ngoài ra, hành vi mua bán hóa đơn nhằm trốn thuế, làm thất thoát nguồn thu Ngân sách nhà nước, làm giảm nguồn vốn chi cho đầu tư phát triển, chi đầu tư xây dựng cơ bản các chương trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội theo quy định tại khoản 4, 5 Điều 4, điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 5 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015; làm ảnh hưởng đến yếu tố thu hút đầu tư.

Tạo môi trường kinh doanh không an toàn, rủi ro cho các doanh nghiệp kinh doanh chân chính.
Việc thành lập các doanh nghiệp “ma” mua bán hóa đơn làm phá vỡ mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh được nêu tại Mục 2 Phần III Nghị quyết 02/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2025 của Chính phủ về việc: Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp mới thành lập; giảm tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động.
























