Chủ đề nóng

Truyện dự thi: Ngôi đền cổ

Chủ nhật, ngày 05/07/2020 15:16 PM (GMT+7)
Aa Aa+
Ngôi đền tọa lạc ở đầu làng... Ở hai phía cổng đền, trước có hai tấm bia đá khắc chữ Hạ Mã. Mọi người đi qua đền, đều phải ngả nón, xuống ngựa, cúi đầu đi cho thật nhanh.
Bình luận 0

1.

Ngôi đền tọa lạc ở đầu làng. Đền có từ khi nào không ai rõ. Nhưng cổ kính lắm.

Nhưng cũng có một dạo, đền bị hoang hóa. Đó là hồi chiến tranh.

Xưa. Ngôi đền thâm u lắm. Cây cối um tùm. Ở tam quan đền có hai ông hộ pháp to tướng, mặt đỏ gay, cầm binh khí. Nhìn chết khiếp. Trước đền là một đoạn đường vắng. Nào có nhà nào dám ở cạnh đền. Hàng ngày đi học, lũ trẻ đều phải đi qua đền. Đứa nào đi một mình, khi qua đền đều phải co cẳng chạy thật nhanh. Mấy đứa con gái khi sắp đi qua thường nán lại chờ bọn con trai đến rồi đi cùng. Có bữa, khi đến trước tam quan, bọn con trai đột nhiên vù chạy, vừa chạy vừa la: Ố bay… Để lại bọn con gái phía sau. Rứa là bọn con gái lại la toáng lên.

Ở hai phía cổng đền, trước có hai tấm bia đá khắc chữ Hạ Mã. Mọi người đi qua đền, đều phải ngả nón, xuống ngựa, cúi đầu đi cho thật nhanh. Người ta kể, từng có ông cai tổng hống hách, khi qua đền cứ nghênh ngang trên ngựa, miệng hống hách: "Ở xứ này, ai bằng ta". Chưa qua khỏi đền, bỗng ông ngã vật từ trên lưng ngựa xuống đất, trợn mắt, méo mồm. Bà cai phải sắm lễ vào đền cầu cúng mấy đêm mới cứu được mạng ông cai, nhưng ông mang tật méo miệng suốt đời.

Ngôi đền như chứa nhiều điều thần bí. Qua tam quan là khoảng sân rộng, mỗi chiều phải vài chục thước tây, gạch lên rêu xanh rì. Lá khô rụng tràn đầy sân. Lá vàng úa, lá khô cong vênh bay ràn rạt, lá mục trơ gân… có đủ. Thi thoảng ông từ mở cổng, nhưng ông không mấy khi quét sân, hoặc cũng chỉ khua vài nhát chổi trước cửa.

Nhà ông từ ở gần đền. Mỗi khi ra mở cổng đền ông đều đứng trước cổng chắp tay hô thật to: "Dạ, Hoàng Văn Thẻn xin mở cổng". Rồi ông mới tra cái chìa khóa vào cái ổ khóa to tướng, lách cách mở.

Cây đa trước tam quan có bộ rễ to ăn sâu vào tường. Cái rễ to bằng bắp chân chứ chả bỡn. Rễ ăn đến đâu, tường toác ra đến đó. Rễ chằng chịt, bám chắc từng kẽ gạch. Nên tuy tường toác ra từng khối nhưng vẫn không thể đổ. Cây đa trùm gần kín sân đền. Chim chóc kéo nhau về làm tổ trên cây đa, tổ to tổ bé, ríu ra ríu rít cả ngày, nhưng đố đứa nào dám trèo lên bắt chim. Đàn chim cứ thế đông dần, bay đi bay về, sinh con đẻ cái… Cây đa là lãnh địa riêng bất khả xâm phạm của bầy chim.

Ngôi đền to là thế, thiêng liêng là thế, thần bí là thế, ở giữa một ngôi làng sầm uất là thế, nhưng vắng teo.

Đền to, đền thiêng nên đền ở một đẳng cấp khác.

Bọn trẻ con trong làng đố dám vào chơi đánh khăng, đánh đáo, chơi dồi, đánh chắt… như vào sân đình.

Ba phía đền đều có khoảng đất rộng. Chả ai dám lấn. Đất đền đất chùa ai dám động đến.

Chỉ thi thoảng có những xe lớn xe con đến lễ bái xì xụp rồi đi. Họ cầu danh cầu lợi. Cái mà họ cần ở ngôi đền.

Ngôi đền thờ ai. Cũng chả ai biết.

Ngôi đền thâm u, bí hiểm thế. Ai vào mà biết.

Thần phả, sắc phong… cũng ở trong hậu cung thâm u. Hình như chưa hề có ai được thấy.

Tóm lại là không biết ngôi đền thờ ai. Chỉ biết, người nọ nối người kia, đời nọ nối đời kia… lễ bái, cung kính và sợ sệt.

2.

Một đoàn xe đỗ xịch trước cổng đền. Có tới cả chục chiếc chứ chả ít. Xe nào cũng đẹp. Hẳn là đắt tiền lắm.

Đi đầu là chiếc xe con đỏ chót như quả ớt chín. Xe vừa dừng, người lái xe chạy nhanh đến mở cửa xe. Mệnh phụ bước xuống. Chiếc xe nhẹ bỗng lên. Mệnh phụ chừng mới ngoài bốn mươi. Nhưng có lẽ đã nặng tới non tạ. Mười ngón tay mụ đơm mười cái nhẫn đính ngọc chói lóa. Hai cổ tay lại có thêm dăm bảy cái lắc, cái dày, cái mỏng, cái trơn, cái chạm khắc cầu kỳ. Chưa kể trên cổ mụ còn ròng thêm sợi dây đính kim cương lấp la lấp lánh. Ui cha…

Bà con xóm đứng nhìn từ xa. Mắt tròn mắt dẹt.

Ông từ chậm rãi tra chìa vào ổ khóa to tổ bố. Ổ khóa bị nước mưa, hơi rỉ. Ông lắc mãi mở được:

- Hôm nay chị lễ nhanh nhanh lên nhé. Bữa trước lễ tới quá nửa đêm. Tôi chờ mất cả ngủ.

- Vâng, hôm nay lễ tạ, nhanh thôi ạ. Cụ giúp cho.

Đồ lễ trên xe được chuyển vào đền. Chật cả gian tiền tế.

Phải tới gần tiếng đồng hồ mới bày xong lễ. Phẩm vật cao chất ngất, mâm nọ chồng mâm kia, rượu bia, thuốc lá, bánh kẹo, xôi oản, lợn quay, tiền vàng, có cả đôla âm phủ in hình Diêm vương. Chả thiếu thứ gì.

Mệnh phụ lại gần ông từ:

- Cụ làm ơn mở hộ hậu cung.

- Không được. Không được phép. Mà tôi… cũng không có chìa khóa.

Ông từ mà không có chìa khóa hậu cung. Vậy ai có. Ông nói dối.

Nhưng ông nói thật. Không dối chút nào. Làm việc thánh, tích thiện tích đức. Nói dối thánh vật chết.

Ông làm gì có chìa khóa hậu cung.

Cái ổ khóa hậu cũng to tổ bố, nhưng hình như đã han gỉ. Vì đã quá lâu ngày không được mở.

Cánh cửa hậu cung nhà đền kín mít, đóng im ỉm từ lâu. Từ rất lâu rồi, không ai nhớ nữa. Hình như tất cả những người hiện hữu ở cái làng này, chưa một ai thấy cánh cửa hậu cung mở bao giờ.

* * *

Một hồi chuông vang lên.

Tất cả ngồi ngay ngắn vào chiếu. Trên ban thờ ở cung đệ nhị, đèn nến lung linh. Khói hương nghi ngút. Nhưng cũng chỉ thờ vọng, vì bài vị và ngai thánh đều ở trong hậu cung.

Mọi người xì xụp khấn vái.

Mệnh phụ lại gần ông từ:

- Thưa cụ. Đền này thờ ai ạ, để con khấn.

- Ô hay…, bữa trước chị đã lễ rồi mà.

- Vâng. Nhưng bữa trước con đâu có biết khấn ai, chỉ khấn chung chung.

- Khấn chung chung mà đã được ngài phù hộ, ngài ban lộc, thế là ngài chứng rồi còn gì. Nay cũng cứ thế mà cúng.

- Vâng vâng vâng…

Rồi mệnh phụ vái lia lịa:

- … Con lạy quan ông, con lạy quan bà, con lạy thần sông, con lạy thần núi, con lạy tứ phương, con lạy bát hướng… Con lạy chư vị… Nhờ chư vị phù hộ mà chồng con vừa rồi đã trúng cử phó trưởng thôn; nhờ chư vị phù hộ mà con út của con đã thi đậu tốt nghiệp tiểu học… Con lạy quan ông, con lạy quan bà… con lạy tứ phương, con lạy bát hướng…

Khấn đến đây mệnh phụ sực nhớ. Trong việc đắc cử phó trưởng thôn của chồng mụ cũng có nguyên do là chồng mụ đã nhặt được con bé ở làng bên, vừa trẻ vừa xinh, bèn tiến cử cho lão cán bộ xã. Nên chồng mụ đã trúng cử một cách dễ dàng. Nghĩ về lão chồng, trước khi tiến cử lên trên chắc gì lão đã trong sáng với con bé. Bởi vậy mà mụ căm con bé lắm. Và mụ khấn tiếp:

- … Cầu các quan trên trừng phạt cái con bé mèo mả gà đồng kia đi, tên nó là…, kẻo nó làm hư hỏng cán bộ…

Chừng như chưa yên tâm. Mụ còn rút tờ sớ mầu đỏ chi chít chữ nho mà ông thầy cúng đã viết cho mụ, đang để trên ban thờ xuống, viết thêm mấy dòng như mụ vừa khấn vào trong tờ sớ. Mụ viết bằng chữ quốc ngữ. Tất nhiên là thế, vì mụ đâu biết chữ nho.

Cả đám người xì xụp khấn vái.

Tiếng chuông, tiếng trống, tiếng não bạt… ồn ĩ cả khu đền.

Cuối cùng, đám lễ cũng kết thúc. Non hai tiếng đồng hồ.

Có lẽ phải tới vài gánh vàng mã, nào ngựa, nào xe, tiền âm phủ, đôla Diêm vương… được đem ra góc sân sau đền đốt, lửa cháy ngùn ngụt, rực sáng cả một góc trời. Tàn vàng bay tứ tung.

Mệnh phụ nhón hai quả chuối, một phẩm oản, lại rút thêm điếu thuốc lá đặt vào chiếc đĩa nhựa, tiến lại gần ông từ:

- Biếu cụ chút lộc, cho vui.

- Vâng. Cảm ơn chị.

Đoàn xe sang có chiếc màu đỏ ớt lại lục tục kéo nhau đi. Trời đã nhá nhem.

3.

Đoàn khách lễ đi đã nửa tiếng đồng hồ mà ông từ vẫn chưa khóa được cổng. Cái ổ khóa bị nước mưa, rỉ cứng, không vặn được chìa.

- Khóa đền sớm thế ông lão. 

Ông từ giật mình quay lại:

- Anh là…

Người đàn ông trung tuổi, mặc bộ đồ rằn ri, đeo chiếc kính đen gần kín mặt, hếch cái mũ lưỡi trai lên một chút:

- Người quen mà. Ông quên nhanh thế.

- Vâng. Tôi chưa nhớ ra.

- Ông cho vào lễ đi.

Ông từ:

 - Sao anh đến muộn thế. Tối rồi. 

Người đàn ông trung niên đẩy ông từ sang một bên:

- Tối thì đã sao. Thờ thần thờ thánh làm gì có giờ giấc.

Nói rồi, gã cầm một tập tiền mầu xam xám, dư dứ trước mặt ông lão:

- Có cái này, cửa thánh nào chả mở.  

Nhưng, hình như là những tờ đôla âm phủ in hình Diêm vương.

Thêm hai gã trung niên khác, to như hộ pháp, mặc áo ba lỗ màu đen, quần rằn ri, xăm trổ đầy mình, vẻ bặm trợn, sấn tới.

Ông từ bèn mở cánh cổng.

Cung đệ nhị nhà tiền tế lại được chất chồng lễ vật. Nào trà tàu, thuốc lá, nào bia rượu, bánh kẹo, vàng mã, đôla âm phủ in hình Diêm vương… Đèn nến lại lung linh, tiếng chuông, tiếng trống, tiếng não bạt lại inh ỏi khu đền.

Gã đeo kính đen quỳ mọp xuống vái lia lịa, miệng lầm rầm khấn:

- … Con lạy tám phương trời, con lạy mười phương đất, con lạy quan trên cao, con lạy quan dưới đất, con lạy lục phủ, thất phủ, nhờ có các quan phù hộ che mắt công an, che mắt thuế vụ, che mắt quản lý thị trường mà chuyến hàng vừa rồi của con trót lọt. Chỉ mất chút luật lộ. Con xin được thành tâm tạ lễ. Con cầu các quan tiếp tục che mắt công an, che mắt…

Gã tung hai đồng tiền đài lên. Hai đồng tiền rơi keng xuống lòng đĩa. Một sấp một ngửa. Gã rập đầu vái lia lịa.

Rồi vàng mã lại được đốt sáng rực cả một góc sân đền. Tàn vàng bay tứ tung…

4.

Cuộc họp thôn hôm nay rất hệ trọng, đó là bàn việc dời ngôi đền thờ sang phía bên kia đường.

Một cuộc họp quan trọng là vậy nên mới chập tối, bà con đã ngồi chật kín sân nhà văn hóa thôn. Cuộc họp có đại diện ủy ban xã về dự và chủ trì. Thoạt tiên, vị lãnh đạo xã thông báo về việc di dời ngôi đền thiêng sang phía bên kia đường để nhường đất cho việc làm đường huyện lộ. Ông cũng giới thiệu cho bà con biết con đường sắp mở sẽ chạy qua phía trước làng. Con đường rộng 32 mét, có dải phân cách. Mỗi bên có ba làn xe, hai làn cho xe ô tô và một làn cho xe thô sơ. Sau khi con đường hoàn thành, hai bên đường sẽ phát triển các công trình đô thị, sẽ có chung cư cao tầng, siêu thị, trung tâm thương mại, sẽ có công viên, sẽ có ngân hàng, bưu điện. Làng ta sẽ lên phố, sẽ sầm uất. Kinh tế sẽ phát triển, vân vân và vân vân. Một viễn cảnh tương lai xán lạn mở ra dưới ngón tay của ông lãnh đạo xã trên bản đồ.

Mọi người trầm trồ, cả hội nghị trầm trồ. Người người bàn tán, nhóm nhóm bàn tán, hội nghị bàn tán, cả làng bàn tán. Đổi đời đến nơi rồi. Hả hê.

Nhưng thật nan giải. Con đường trên bản đồ lại chạy đúng vào giữa ngôi đền. Ngôi đền đã được huyện cấp bằng di tích đặc biệt. Có tấm bằng to tướng gần bằng cái mặt bàn, đóng dấu đỏ chót hẳn hoi đang được treo trong đền. Ngày đón nhận bằng, thôn tổ chức long trọng lắm.

- Đây là di tích được huyện cấp bằng công nhận. Mọi liên quan phải được sự đồng ý của huyện.

- Huyện đã đồng ý rồi. Đây là chủ trương của huyện mà. Huyện lộ hẳn hoi nhá.

- Sao không nắn con đường chệch đi một tý.

- Nắn á, sao được. Con đường đang thẳng băng. Không lẽ con đường lại cong queo.

- Nắn cho con đường đi chệch hẳn sang chỗ khác kia mà.

- Không được. Sao lại chệch đường. Cấm đấy nhá.

Hội nghị thật sôi nổi. Ai cũng muốn phát biểu ý kiến. Nhiều ý kiến hay được phát ra. Nhiều ý kiến được mọi người tán thưởng, vỗ tay đôm đốp.

Đã gần mười giờ đêm, hội nghị vẫn chưa ngã ngũ. Chưa có giải pháp khả thi ngoài việc phải di chuyển ngôi đền.

- Thưa bà con - người cán bộ xã nói - Con đường huyện lộ đã được quy hoạch rồi, rất đúng quy trình. Nếu theo ý kiến bà con là chuyển dịch con đường sang phía bên kia, thì con đường sẽ đi vào khu dân cư. Sẽ có hàng trăm hộ gia đình bị ảnh hưởng. Sự giải tỏa đền bù sẽ rất lớn. Cần phải có hàng trăm triệu đồng cho việc này. Điều này quá sức của huyện, của dự án.

Ngừng một lát, ông nói tiếp:

- Vì sự phát triển của quê hương, rất mong bà con đồng thuận với chủ trương lớn này.

Hội nghị lặng đi một lát.

Lác đác vài tiếng vỗ tay.

Rồi thêm vài chục tiếng vỗ tay nữa.

Rồi hội nghị vỗ tay rầm rầm

Di chuyển ngôi đền thiêng của làng, không ai muốn. Nhưng không còn cách nào khác.

Mười một giờ đêm, hội nghị kết thúc.

Giải pháp cuối cùng: Di dời ngôi đền thiêng sang phía bên kia đường.

5.

Nếu việc quyết định di dời ngôi đền khó như tìm đường lên trời, thì việc tìm người phá dỡ ngôi đền còn khó gấp vạn lần. Nhiều hiệp thợ đã được mời đến, nhưng tất thảy đều trả lời nếu làm đền thì nhận, chứ phá đền thì... không bao giờ.

Con đường huyện lộ thênh thang rộng 32 mét có dải phân cách đã làm gần xong, chỉ còn mỗi đoạn qua ngôi đền. Rất nhiều cuộc họp đã diễn ra. Rất nhiều cuộc bàn thảo đã diễn ra. Và cũng rất nhiều sáng kiến đã đưa ra. Nhưng ngôi đền vẫn im lìm. Chung quy vẫn là không có ai dám phá và không tìm được người phá ngôi đền.

Không thể để ảnh hưởng tới tiến độ dự án. Mà là dự án trọng điểm của huyện hẳn hoi.

Một sáng kiến được đưa ra. Giao cho trung đội dân quân của thôn làm việc này. Dân quân là lực lượng xung kích, là nòng cốt trong việc đảm bảo trị an mà lỵ. Dân quân là phương án tốt nhất. Cần phải điều dân quân ngay.

Và lệnh điều dân quân được phát ra ngay lập tức.

Ngay buổi chiều hôm đó, trung đội dân quân thôn đã có mặt. Không thiếu một người.

Đang rất hăng hái, nhưng sau khi được quán triệt nhiệm vụ, mọi dân quân viên đều chùng hẳn xuống.

- Các đồng chí - Thôn trưởng lên dây cót - Đây là nhiệm vụ quan trọng…  

Thì quan trọng chứ sao. Ai bảo không quan trọng.

Cả hàng quân lặng im.

Thôn trưởng đi đi lại lại.

Vẫn im lặng.

- Đồng chí trung đội trưởng!

- Có tôi!

Biết không thể thoái thác, trung đội trưởng vác cây thang lên vai, đi về phía ngôi đền.

Mới đi được hai bước, chợt có tiếng quát lớn khiến mọi người giật mình, quay lại:

 - Anh Tảo! 

Tảo là tên đồng chí trung đội trưởng dân quân.

- Anh nhớ, anh đang là tộc trưởng họ Nguyễn chúng tôi đấy nhá.

Hóa ra là ông chú họ của trung đội trưởng dân quân. Nói rồi ông giằng lấy cây thang trên tay Tảo, ném xuống đất.

- Anh định để dòng họ nhà anh tuyệt tự sao. 

Mọi người không ai bảo ai, lặng lẽ rút khỏi sân đền.

* * *

Phải huy động tinh thần của cựu chiến binh thôi. Cựu chiến binh là những người đã qua lửa đạn. Từng có lúc cái sống cái chết trong gang tấc. Coi cái chết như lông hồng…

Ừ nhỉ.

Cựu chiến binh.

Đúng rồi. Cựu chiến binh.

Có thế mà không nhớ ra. Cựu chiến binh, mưa bom bão đạn họ còn vượt qua, nữa là…

Sáng kiến hay đấy.

Một công văn đóng dấu hỏa tốc lại được giao thông viên dắt vào xà cột, phóng xe đi ngay lập tức.

Đúng là nhà binh có khác. Chỉ hơn nửa tiếng sau, Chi hội Cựu chiến binh có mặt.

Quái lạ.

Chỉ triệu tập các ông cựu chiến binh thôi chứ. Ai triệu tập các bà.

Nhưng, đi sau mỗi cựu chiến binh là một bà.

Rõ ràng là một bà. Mà là bà vợ hẳn hoi nhé. Không phải bà hàng xóm. Nhất quyết không phải. Không được nghĩ lung tung. Cựu chiến binh đâu phải đùa.

- Ông nhà tui thoát vị đĩa đệm nhá. Không tham gia chi hết…

- Ông nhà tui bị thoái hóa đốt sống cổ nhá. Ốm tha già thải…

- Ông nhà tui…

- Ông nhà tui…

Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã:

- Các bà. Ai biểu các bà ra đây. Đây không phải việc của các bà.

- Rứa việc của ông à… Thì ông ra mà làm đi. Một bà đế lên.

!... !... !...

!... !... !...

Bà vợ chi hội trưởng cựu chiến binh thôn chộp khuỷu tay chồng, lôi xềnh xệch:

Bà vợ của ông chi hội phó cũng chộp khuỷu tay chồng…

Cả đám người nhao nhao. Ong vỡ tổ.

* * *

Tay chủ thầu đội cái mũ cối sùm sụp, văng ra vài từ tục tằn luôn có sẵn trên miệng:

  - … Thế này thì bao giờ mới thi công được.  

Thêm vài câu làu bàu nữa. Tất nhiên anh ta không quên đế thêm vài từ tục tằn có sẵn.

Lại lặng im.

Giây lát.

- Tất cả tránh ra. Để đó.

Nói rồi, anh ta nhảy phốc lên chiếc máy xúc. Nổ máy xồng xộc.

Chiếc máy xúc trườn lên, giương cái miệng gầu có răng lởm chởm như hàm cá mập, lao về phía ngôi đền.

Không ai bảo ai, các bà đều ngồi thụp xuống sân đền, vái lia lịa.

Các ông cũng lần lượt ngồi xuống theo.

… Lạy thánh mớ bái…

… Lạy thánh mớ bái…

… Lạy ngài đại xá…

Tiếng khấn khứa rầm cả sân đền, nhưng không át được tiếng rồ của chiếc máy xúc.

Ai đó la lên:

- Trời ơi!... 

Cái miệng sắt to tướng lởm chởm răng của máy xúc ngoạm một mảng tường, rồi một mảng nữa của tường hậu cung.

Một mảng tường hậu cung trống hoác.

Tay chủ thầu điều khiển máy xúc luồn cái gàu xúc vào khoảng trống của bức tường. Gã giật cần lái. Cần gầu bật nhanh, hất cái mái ngói của gian hậu cung ra. Gạch ngói văng tung tóe. Hậu cung ngôi đền toang hoác, bụi tung mù mịt.

Dưới sân, các bà, các chị vẫn cúi rập đầu vái lia lịa.

Bụi chưa kịp tan, mọi người chạy ào lên phía hậu cung.

Mọi người sững lại. Ai nấy há hốc mồm. Mắt tròn chữ O.

Trên bệ thờ xây bằng gạch giữa gian hậu cung chẳng có gì sất, ngoài chiếc cối đá thủng nằm chơ hơ.

Ngai thờ không có, bài vị không có, kiếm thần không có, tắc tải, giao long, chân đèn, đài rượu… không có.

Cửa võng, hoành phi, câu đối… sơn son thếp vàng… không có.

Sắc phong, ngọc phả… đều không có.

Chiếc cối đá thủng bụi phủ dày tới cả đốt ngón tay. Mạng nhện chăng dày dịt như mắc cửi.

* * *

Các cụ cao niên trong làng nhớ lại.

Cách đây có lẽ cũng tới gần sáu chục năm. Ngôi đền từng là nơi trú quân của bộ đội. Rồi một dạo là kho lương thực. Rổi bỏ không.

Chiến tranh phá hoại miền Bắc lan ra. Bom giặc bỏ khắp nơi. Chung quanh ngôi đền hố bom chi chít. Ngôi đền trống hơ trống hoác.

Lúc bấy giờ dân làng đã đi sơ tán hết. Nào ai dám ở lại làng, bom đạn liên miên, ruộng vườn xơ xác, cây cối trụi lơ… Chỉ mỗi thằng Ngẩn, to cao như hộ pháp nhưng dãi dớt đầy miệng, ở lại. Thằng Ngẩn là con bà cai Tít, nghe nói là con cầu tự. Cha thằng Ngẩn bị bắn hồi đấu địa chủ. Hai mẹ con thằng Ngẩn ở cái lều cuối làng. Bà cai Tít chết, thằng Ngẩn ở một mình. Dân làng đi sơ tán, hắn cũng chẳng mấy khi về cái túp lều ở cuối làng, mà thường chọn một góc trong gian tiền tế để ngủ.

Hòa bình lập lại, dân làng lục tục kéo về.

Hậu cung ngôi đền đã được khóa im ỉm từ lúc nào.

Và im ỉm từ bấy tới nay.

* * *

Mấy cụ cao niên làu bàu:

- Thằng Ngẩn. Lại thằng Ngẩn.

- Cha thằng Ngẩn.

                                                                    Hạc thành, 17/1/2019

Truyện dự thi: Ngôi đền cổ - Ảnh 1.

Lâm Bằng
Mời các bạn đồng hành cùng báo Dân Việt trên mạng xã hội Facebook để nhanh chóng cập nhật những tin tức mới và chính xác nhất.
Tin cùng chuyên mục
Xem theo ngày Xem