Chủ đề nóng

Lông vũ: Sự xa hoa của thời trang và câu chuyện buồn phía sau

Diễm Quỳnh Thứ ba, ngày 02/06/2020 10:18 AM (GMT+7)
Aa Aa+
Từ lúc sinh ra, những chiếc lông vũ đã trở thành một biểu tượng của địa vị xã hội, vốn được dùng để phân biệt giữa các tầng lớp xã hội.
Bình luận 0

Lông vũ được biết đến là một trong những cấu trúc sinh học ấn tượng nhất được tìm thấy ở động vật. Những phần phụ tiến hóa này bao gồm các cấu trúc keratin nhỏ giúp chim bay, bảo vệ, cách nhiệt và giao tiếp. Ngoài động vật tiên phong, vẻ đẹp năng động và đa dạng của lông vũ là thứ đã làm say đắm thế giới, với bộ lông được sử dụng như một vật trang trí thời trang trong nhiều thiên niên kỷ. Tuy nhiên, lịch sử đằng sau lông vũ đã dần chuyển từ một câu chuyện kể về các nền văn hóa bản địa và các giai đoạn lịch sử, sang một câu hỏi về sự tiến hóa của sự bền vững trong thời trang.

Việc sử dụng lông vũ như trang trí phong cách sartorial có từ khoảng năm 60 trước Công Nguyên, với anh em họ trong sự tiến hóa của chúng ta là người Neanderthal. Phân tích khoa học nói rằng người Neanderthal có sở thích mặc lông chim sẫm màu hơn. Sau đó, tầng lớp thượng lưu của Ai Cập cổ đại đeo lông đà điểu trên tóc như một biểu tượng của lòng trung thành với nữ thần của sự thật và sự cân bằng, Ma'at, người được miêu tả với đôi cánh và một chiếc lông vũ trên đầu. Hành động tô điểm cho cơ thể bằng các yếu tố tự nhiên như lông vũ, xương chậu và lá cây được xem như một cách tôn vinh phẩm chất bảo vệ của vùng đất trên khắp các nền văn hóa cổ đại trên thế giới.

Kể từ những ngày đầu tôn tạo tự nhiên, các vật phẩm càng khác thường, thứ hạng xã hội cho người mặc càng cao. Điều này đúng với nhiều nền văn hóa, đặc biệt là người Mỹ bản địa, nơi lông vũ là biểu tượng của danh dự cao. Người Mỹ bản địa trong lịch sử đã sử dụng lông vũ như một cách đánh dấu những thành tựu có ý nghĩa và phong cách khác nhau từ bộ lạc này đến bộ lạc khác. Những chiếc lông này sau đó được mặc như một cách thể hiện dấu ấn cao của một người thông qua các trang phục như mũ lông vũ (còn được gọi là mũ sắt chiến tranh) được coi là có ý nghĩa tinh thần to lớn được mặc trong những dịp đặc biệt của các nhân vật hàng đầu của bộ lạc.

Ở nước ngoài, lông vũ trở thành một trang phục chủ yếu ở Ý thế kỷ 12 trong lễ kỷ niệm Carnival hàng năm của Venice dẫn đến mùa Lent. Người Venice sẽ đeo mặt nạ papier-mâché được trang trí một cách hoang dã bằng lông vũ để che giấu danh tính của một người trong các lễ hội, nơi tất cả các tầng lớp xã hội hòa lẫn với nhau để thực hiện các hành vi bất hợp pháp như đánh bạc và các vấn đề bí mật. Khi lông vũ trở thành xu hướng thời trang phổ biến trong thời Trung cổ, phụ kiện mang tầm quan trọng như một món đồ quần áo thể hiện tầm quan trọng xã hội. Người ta nói rằng lông vũ đã được phổ biến vào thế kỷ 16 bởi các hiệp sĩ đã đưa xu hướng này trở lại từ các cuộc thập tự chinh của họ. Họ sẽ đội lông vũ trên đầu gọi là panaches biểu thị địa vị, sự giàu có, sắc tộc và nhiều thứ khác khi được mặc trong trận chiến. Chiếc lông vũ không chỉ là một xu hướng thời trang, mà còn là một dấu hiệu của việc mở rộng thương mại và chinh phục đế quốc.

Vào những năm 1600, người Bồ Đào Nha đã mang truyền thống lễ hội Carnival của riêng mình đến Brazil, khi họ xâm chiếm vùng đất này. Bắt đầu là những buổi tiệc chính thức trong tầng lớp thượng lưu Bồ Đào Nha, các bữa tiệc đã sớm bị chiếm đoạt và bị lu mờ bởi những lễ hội đầy màu sắc và sống động của người Afro-Brazil truyền cho Carnival với điệu nhảy, âm nhạc và trang phục. Trong khi ban đầu tách biệt giữa hai nền văn hóa, các lễ hội đã hợp nhất vào thế kỷ 20 để trở thành lễ hội lớn tràn ngập đường phố Rio de Janeiro mỗi năm. Âm nhạc và khiêu vũ Samba đã định nghĩa sự mặc khải, với các trường phái samba cạnh tranh trong các cuộc diễu hành Carnival nổi tiếng thế giới được trình diễn trong trang phục lông vũ và trang trí. Các nền văn hóa khác trên khắp thế giới cũng đã áp dụng thời trang ấn tượng cho các cuộc diễu hành và tiệc tùng Carnival của riêng họ mỗi năm.

Xu hướng ăn mừng đã sớm chuyển sang thời trang phổ biến, nơi mà càng kỳ lạ, thứ hạng xã hội càng cao. Lông vũ của động vật như đà điểu, thiên nga và chim công là phổ biến trong các tầng lớp xã hội cao hơn, trong khi lông vũ dễ kiếm hơn được mặc bởi các tầng lớp thấp hơn. Lông vũ trở thành một phụ kiện không thể thiếu trong thời kỳ mà xu hướng thời trang xuất hiện hào hùng hơn bao giờ hết.

Đến thế kỷ 18, mặc lông vũ gần như được nữ tính hóa hoàn toàn thay vì mục đích quân sự. Trong thời gian trị vì như Nữ hoàng của Pháp, nhà tạo mốt hàng đầu và người sành điệu Marie Antoinette đã phổ biến kiểu tóc pouf đặc trưng của mình, kích thích làn sóng phụ nữ chấp nhận điều tương tự. Đó là thời trang để trang trí bầu trời "toque" (đệm dày) lên cao với ngọc trai, trang sức tóc và lông vũ cho một số phụ kiện trang trọng.

Sử dụng lông vũ trong thời trang đạt đến đỉnh cao mọi thời đại trong thương mại của thế kỷ 18, 19 và đầu thế kỷ 20, lông vũ trở thành một phong cách thương mại hóa thể hiện qua các xu hướng khác nhau của thời đại. Những vũ công flappers của thời đại nhạc Jazz mặc những chiếc áo lông vũ ấn tượng trong khi nhảy ở các hộp đêm. Điều này cho thấy một tương lai của showgirl và thời trang trên sân khấu, với những ngôi sao như Mistinguett và Josephine Baker sử dụng các phụ kiện lông vũ như một công cụ để tăng cường chuyển động và uyển chuyển trên sân khấu.

Ngoài ra, sự bùng nổ này đã tạo ra một ngành công nghiệp làm mũ, những người đã tạo ra những chiếc mũ trang trí lông vũ xa hoa. Trong khi những chiếc mũ đội đầu bằng lông vũ là xu hướng trong thời gian này, các hiệu ứng dài hạn không được xem xét. Nhà nghiên cứu về loài chim Frank Chapman lưu ý rằng bộ lông của khoảng 40 loài chim đã được sử dụng trên những chiếc mũ mà ông quan sát xung quanh thành phố New York, góp phần gây ra những mất mát nghiêm trọng trong quần thể chim. Điều này dẫn đến việc Đạo luật Lacey được thông qua vào năm 1900, một luật bảo tồn cấm buôn bán động vật hoang dã phần lớn làm sụp đổ thị trường lông vũ trang trí.

Tác động môi trường của thời trang lông vũ đã được thay đổi để duy trì phong cách trong khi có ít dấu chân sinh thái. Lông vũ đã phát triển để được thu thập, thao tác và nhuộm bền vững theo những cách khác nhau để tăng cường sự xuất hiện của chúng. Bộ lông được sản xuất có đạo đức đã dẫn đến xu hướng lông vũ lấy lại đà sau này trong thế kỷ 20. Phong cách táo bạo của thập niên 70 và 80 bao gồm rất nhiều kiểu dáng lộng lẫy, lông vũ có lẽ là một câu trả lời cho phong cách sống về đêm đang phát triển. Từ những người tham gia bữa tiệc tại Studio 54 cho đến các sân khấu của Elton John, Cher và Donna Summer, bộ lông vũ tiến đến sân khấu của kỷ nguyên disco. Lông vũ thêm một cảm giác về độ lớn cho cơ thể, áp dụng một tinh thần lớn hơn là tốt hơn khi nói đến thời trang. Trên các sàn diễn thời trang của thập niên 80 và 90, lông vũ đã mang đến một nét riêng cho các bộ sưu tập của các nhà thiết kế, cho dù chỉ là một đường viền làm nổi bật vẻ ngoài hay toàn bộ chiếc áo khoác lông vũ.

Lông vũ được đưa vào thiên niên kỷ mới với sự xuất hiện của các phụ kiện lông vũ, như kẹp tóc và hoa tai, nghiêng về một kiểu dáng phóng túng. Xu hướng này sau đó bùng nổ với những bản nhạc rock 'n' roll khi những người nổi tiếng như Ke$ha và Steven Tyler của Aerosmith được nhìn thấy trong những phụ kiện tinh túy của những năm 2010. Gần đây, lông vũ đã quay trở lại sàn diễn thời trang, xuất hiện trong các bộ sưu tập năm 2019 và 2020 của Valentino, Marc Jacobs, Givenchy, Oscar de la Renta, v.v. Đồng thời mong manh và lòe loẹt, chúng đã phóng đại cảm giác sang trọng trong các bộ sưu tập.

Sự vĩ đại của lông vũ là thứ đã được khám phá trong thời trang trên toàn thế giới. Được thể hiện trong nhiều hình dạng, màu sắc và kết cấu khác nhau, những di tích của thiên nhiên này có ý nghĩa tâm linh đối với nhiều người, nhưng chính vẻ đẹp hữu cơ của chúng đã gắn kết chúng thành một vẻ đẹp lộng lẫy bắt mắt.

Mời các bạn đồng hành cùng báo Dân Việt trên mạng xã hội Facebook để nhanh chóng cập nhật những tin tức mới và chính xác nhất.
Tin cùng chuyên mục
Xem theo ngày Xem